Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011

Tiểu sử tóm tắt 14 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI


19/01/2011 10:19:38

 - Bee.net.vn xin trân trọng giới thiệu tiểu sử tóm tắt của 14 Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI.

TIN LIÊN QUAN

1. Ông Trương Tấn Sang

 

Sinh ngày: 21/1/1949

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: không

Quê quán: Xã Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày vào Đảng: 20/12/1969.

Trình độ học vấn: Đại học (Cử nhân Luật).

Lý luận chính trị: Cao cấp

Tóm tắt quá trình công tác

1966-1969: Công tác phong trào thanh niên, học sinh sinh viên P.K 2.

1969-1971: Đảng Ủy viên, Bí thư Đoàn thanh niên, phụ trách đội du kích bí mật thị trấn Đức Hòa, Long An.

1971: Bị địch bắt.

1973: Trao trả theo Hiệp định Paris.

1973-1975: Công tác tại Ban T73 thuộc Ủy ban Thống nhất Trung ương.

1975-1979: Công tác ở Liên hiệp công đoàn Gia Đinh, rồi Ban khai hoang xây dựng kinh tế mới Thành phố Hồ Chí Minh. Phó Ban khai hoang.

1979-1983: Giám đốc Nông trường Phạm Văn Hai, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành Ủy viên dự khuyết.

1983-1986: Thường vụ Thành ủy, Bí thư huyện ủy Bình Chánh.

1988-1990: Học lớp 2 năm Học viện Nguyễn Ái Quốc.

Tháng 6/1991, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Sở Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh.

1992: Quyền Chủ tịch, rồi Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 6/1996, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hànhTrung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ 1/2000, được Bộ Chính trị phân công Trưởng ban Kinh tế Trung ương.

Tháng 4/2001, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính tri, phân công Trưởng Ban Kinh tế Trung ương.

Tháng 4/2006, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ  X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính tri, Ban Bí thư Trung ương.

Tháng 5/2006: Giữ chức Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.

2. Ông Phùng Quang Thanh

 

Sinh ngày 2/2/1949.

Quê quán: Xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, Hà Nội.

Dân tộc: Kinh.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam:11/6/1969.

Trình độ học vấn: Đại học Quân sự.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác:

Tháng 7/1967: Tham gia cách mạng.

1997: Thiếu tướng, Tư lệnh Quân khu 1.

1998: Thăng quân hàm Trung tướng.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương  Đảng, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ngày 25/6/2003: Thăng cấp quân hàm Thượng tướng.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Ngày 28/6/2006: tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. 

Tháng 7/2007: Thăng quân hàm Đại tướng.

Ngày 2/8/2007: tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XII, được Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đại biểu Quốc hội khóa XI, XII.

3. Ông Nguyễn Tấn Dũng

 

Sinh ngày: 17/11/1949.
 
 Quê quán: Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
 
 Dân tộc: Kinh
 
 Tôn giáo: Không
 
 Thành phần gia đình: Cán bộ kháng chiến.    
 
 Ngày tham gia Cách mạng: 17/11/1961
 
 Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 10/6/1967.
 
 Trình độ học vấn: Cử nhân Luật, cao cấp Chính trị
 
 - Ủy viên Trung ương Đảng khóa 6, 7 ,8 ,9 , 10. 
 
 - Ủy viên Bộ Chính trị khóa 8, 9, 10. Phó Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ khóa 10, 11. Đại biểu Quốc khóa 10, 11.
 
Tóm tắt quá trình công tác:
  
Tháng 11/1961 đến 9/1981: Tham gia Quân đội, làm văn thư, liên lạc, cứu thương, y tá, y sỹ, bổ túc chương trình phẫu thuật ngoại khóa của bác sĩ quân y và đã qua các cấp bậc-chức vụ: Tiểu đội bậc trưởng, Trung đội bậc trưởng, Đại đội bậc phó, đại đội bậc trưởng - Đội trưởng Đội phẫu thuật, Đại đội trưởng và Chính trị viên trưởng Đại đội Quân y (Bí thư Chi bộ Đảng thuộc Tỉnh Đội Rạch Giá (hiện nay là tỉnh Kiên Giang).
 
- Học khóa Bổ túc sỹ quan chỉ huy cấp Tiểu đoàn -Trung đoàn Bộ binh và đảm nhiệm nhiệm vụ Thượng úy - Chính trị viên trưởng Tiểu đoàn Bộ binh 207 (Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn) và Đại úy - Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Bộ binh 152 (Ủy viên Thường vụ Đảng uỷ Trung đoàn) chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp bạn Campuchía. Thiếu tá - Trưởng Ban cán bộ của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang.
 
- Tháng 10/1981 đến 10/1994, chuyển ra ngoài Quân đội, đi học Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc và lần lượt qua các chức vụ: Tỉnh ủy viên - Phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang. ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy - Bí thư Huyện ủy Hà Tiên. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Kiên Giang. Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Kiên Giang. Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh, Đảng Ủy viên Đảng uỷ Quân khu 9.
 
- Tháng 12/1986, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, được bầu ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 
- Tháng 6/1991, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, được bầu là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
 
- Tháng 11/1994: Thứ trưởng Bộ Công an, Đảng ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương.
 
- Tháng 6/1996: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. 
 
- Tháng 6/1996 đến 8/1997: Trưởng Ban Kinh tế Trung ương và phụ trách công tác Tài chính của Đảng.
 
- Tháng 9/1997: tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa X, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Phó Thủ tướng  Chính phủ. 
 
- Tháng 9/1997 đến nay (6/2006): Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ – Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ. Chủ tịch Hội đồng Tài chính tiền tệ Quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo Tây nguyên; Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ; Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước về các công trình trọng điểm Quốc gia; Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về Đổi mới doanh nghiệp Nhà nước; Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tội phạm và Trưởng Ban chỉ đạo một số công tác khác.
 
- Từ tháng 5/1998 đến 12/1999: kiêm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và bí thư Ban cán sự Đảng Ngân hàng Nhà nước.
 
- Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ.
 
 Đại biểu Quốc hội khóa X, XI.
 
- Tháng 8/2002: tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XI, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Phó Thủ tướng  Chính phủ.
 
 Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ  X của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.
 
- Ngày 27/6/2006: tại kỳ họp thứ  9, Quốc hội khóa XI được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ.
 
- Ngày 28/7/2006: Thủ tướng Chính phủ, Bí thư Ban Cán sự đảng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng.

4. Ông Nguyễn Sinh Hùng

 

Sinh ngày: 18/1/1946.

Quê quán: Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Dân tộc: Kinh.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 26/5/1977.

Trình độ học vấn: Tiến sĩ kinh tế.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác:

Năm 1972: Tham gia cách mạng.

1972-1977: Là cán bộ Ngân hàng Kiến thiết Trung ương, Bộ Tài chính.

1978-1982: Nghiên cứu sinh tại Bulgaria.

10/1986-1/1990: Chánh văn phòng Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính.

Từ 10/1992: Thứ trưởng Bộ Tài chính.

Tháng 6/1996, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 11/1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Tháng 4/2001, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên BCHTƯ Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Tháng 8/2002, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XI, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Tháng 4/2006, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Ngày 28/6/2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI được bầu giữ chức Phó thủ tướng Chính phủ.

Ngày 28/7/2006: Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Bí thư ban Cán sự đảng Chính phủ. Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ.

Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XII.

5. Ông Lê Hồng Anh

 

Sinh ngày 12/11/1949.

Quê quán : Xã Vĩnh Bình Bắc, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

Dân tộc: Kinh.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 2-3-1968. 

Trình độ học vấn: Đại học Luật.

Lý luận chính trị: Cử nhân.
 
Tóm tắt quá trình công tác:
 
Năm 1960: Tham gia cách mạng năm 1960.

1960-1968: là cán bộ xã Đoàn xã Vĩnh Bình Bắc, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

1969-1977: là cán bộ tỉnh Đoàn, rồi Ủy viên Ban Chấp hành, Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh Đoàn, Thị ủy viên-Bí thư Đoàn thanh niên Rạch Giá, Phó Bí thư tỉnh Đoàn Kiên Giang.

1978-1980 : Học và tốt nghiệp Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).

1981: là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khoá II), Bí thư Tỉnh Đoàn, rồi Phó ban Tổ chức Tỉnh ủy Kiên Giang.

1986-1991: giữ các chức vụ: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra, Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy, Bí thư huyện ủy Châu Thành, rồi Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy.

Tháng 6/1996: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang.

Từ tháng 6/1997: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị, phân công giữ chức Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Đại biểu Quốc hội khóa XI.

Tháng 8/2002: tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XI, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an.

Tháng 1/2003: thôi giữ chức Bí thư Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Tháng 1/2005: được phong cấp hàm Đại tướng an ninh nhân dân.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Tháng 7/2006: Được chỉ định giữ chức Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương nhiệm kỳ 2006-2010.

Ngày 2/8/2007: tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XII phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Công an.

 - Đại biểu Quốc hội khóa XI, XII.

6. Ông Lê Thanh Hải

 

Sinh ngày 20/2/1950.

Quê quán: Xã Điều Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Dân tộc: Kinh

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 17/4/1968

Trình độ học vấn: Đại học (Cử nhân kinh tế, Cử nhân văn chương).

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác:

Năm 1966: Thoát ly gia đình tham gia cách mạng.

Từng kinh qua nhiều chức vụ từ cơ sở: Chủ tịch, Bí thư xã, Bí thư Quận đoàn Tân Bình, Phó Bí thư Đảng ủy cấp trên cơ sở kiêm Chỉ huy trưởng Lực lượng Thanh niên xung phong Thành phố Hồ Chí Minh, Bí thư Quận ủy quận 5, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc sở Kế hoạch-Đầu tư.

Năm 1999: Ủy viên Thường vụ Thành uỷ, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Từ 7/2001: là Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố khóa VI.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị.

Từ 28/6/2006: Giữ chức Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ tháng 10/2010: tại Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII được bầu giữ chức Bí thư Thành phố Hồ Chí Minh.

7. Ông Tô Huy Rứa

 

Sinh ngày: 04/06/1947.

Quê quán: huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Dân tộc: Kinh.      

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 06/02/1967.

Trình độ học vấn: Phó giáo sư-tiến sỹ Triết học.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác: 


Tháng 6/1965: Tham gia cách mạng.

Tháng 6/1996: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hànhTrung ương Đảng, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Từ 1/2000: là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hànhTrung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng.

Tháng 5/2003: Phó Giám đốc Thường trực Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

10/2004: Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ  X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Ban bí thư Trung ương Đảng.

Tháng 5/2006: Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương và sau đó là Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

Tháng 1/2009: tại Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) được bầu vào Bộ Chính trị.

8. Ông Nguyễn Phú Trọng

 

Sinh ngày: 14/4/1944 

- Giới tính: Nam 

- Dân tộc: Kinh

Quê quán: Xã Đông Hội, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội 

- Nơi ở hiện nay: số 5, phố Thiền Quang, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội 

- Thành phần gia đình: Bần nông 

- Nghề nghiệp khi được tuyển dụng: Học sinh 

- Ngày được tuyển dụng làm cán bộ, công chức, viên chức: 5/12/1967 

- Ngày vào Đảng : 19/12/1967 

- Ngày chính thức: 19/12/1968. 

- Trình độ được đào tạo: 

+ Giáo dục phổ thông: Tốt nghiệp hệ 10 năm 

+ Chuyên môn nghiệp vụ: Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội (hệ 4 năm) 

+ Học hàm học vị: Giáo sư, Tiến sĩ Chính trị học (chuyên ngành xây dựng Đảng). 

+ Lý luận chính trị: Cao cấp 

+ Ngoại ngữ: Tiếng Nga 

- Khen thưởng: Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huy chương vì sự nghiệp văn hóa, Huy chương vì sự nghiệp báo chí, Huy chương vì sự nghiệp thế hệ trẻ, … 

- Kỷ luật: Không 

- Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa: Không 

- Ủy viên chính thức Trung ương Đảng các khóa VII, VIII, IX, X 

- Ủy viên Bộ Chính trị các khóa VIII, IX, X; tham gia Thường trực Bộ Chính trị (8/1999-4/2001). 

- Đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII 

Tóm tắt quá trình công tác:

- 1957-1963: Học trường phổ thông cấp II, cấp III Nguyễn Gia Thiều, Gia Lâm, Hà Nội.  - 1963-1967: Sinh viên Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. 

- 12/1967 - 7/1968: Cán bộ phòng tư liệu Tạp chí Học tập (nay là Tạp chí Cộng sản) 

- 7/1968-8/1973: Cán bộ biên tập Ban Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản. Đi thực tập ở huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây (1971). Bí thư chi đoàn cơ quan Tạp chí Cộng sản (1969-1973) 

- 8/1973-4/1976: Nghiên cứu sinh Khoa Kinh tế-Chính trị Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh), chi ủy viên. 

- 5/1976-8/1980: Cán bộ biên tập Ban Xây dựng Đảng, Tạp chí Cộng sản, Phó Bí thư chi bộ. 

- 9/1980 - 8/1981: Học Nga văn tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. 

- 9/1981-7/1983: Thực tập sinh và bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ (nay là Tiến sĩ) Khoa xây dựng Đảng thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Liên Xô. 

- 8/1983 - 2/1989: Phó Ban Xây dựng Đảng (10/1983), Trưởng Ban Xây dựng Đảng Tạp chí Cộng sản (9/1987); Phó Bí thư Đảng ủy (7/1985-12/1988), rồi Bí thư Đảng ủy cơ quan Tạp chí Cộng sản (12/1988-12/1991) 

- 3/1989 - 4/1990: Ủy viên Ban biên tập Tạp chí Cộng sản 

- 5/1990 - 7/1991: Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản 

- 8/1991 - 8/1996: Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản. 

- 1/1994 đến nay: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VII, VIII, IX, X 

- 8/1996 - 2/1998: Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội, kiêm Trưởng Ban Cán sự Đại học và trực tiếp phụ trách Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội 

- 12/1997 đến nay: Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VIII, IX, X 

- 2/1998 - 1/2000: Phụ trách công tác Tư tưởng - Văn hóa và Khoa giáo của Đảng 

- 8/1999-4/2001: Tham gia Thường trực Bộ Chính trị 

- 3/1998 - 8/2006: Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (3/1998-11/2001); Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, phụ trách công tác lý luận của Đảng (11/2001-8/2006) 

- 1/2000 - 6/2006: Bí thư Thành ủy Hà Nội các khóa XII, XIII, XIV 

- 5/2002 đến nay: Đại biểu Quốc hội các khóa XI, XII 

- 6/2006 đến nay: Bí thư Đảng đoàn Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh. 

- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1/2011), được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

9. Ông Phạm Quang Nghị

 

Sinh ngày 2/9/1949.

Quê quán: Xã Định Tân, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Dân tộc: Kinh

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 28/11/1973.

Trình độ học vấn:  Đại học Tổng hợp Hà Nội, Tiến sĩ Triết học.

Lý luận chính trị: Cao cấp

Tóm tắt quá trình công tác: 

Trước 1966: Học phổ thông.

1967/1970: Học Đại học Tổng hợp Hà Nội (khoa Lịch sử).

1970/1975: Cán bộ nghiên cứu Ban Tuyên huấn Trung ương Cục.

1975/1978: Học trường Nguyễn Ái Quốc (chuyên ban Triết học).

Từ 1978 đến 11/1997: trải qua nhiều chức vụ từ cơ sở: Phó Giám đốc, Giám đốc Trung tâm Thông tin Công tác tư tưởng, Phó Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bí thư Đảng ủy khối Công tác tư tưởng.

1981-1985: Nghiên cứu sinh tại Liên Xô (cũ). Là Phó Tiến sỹ Triết học.

Tháng 6/1996, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương.

Từ 12/1997: Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam. 

Tháng 6/2001: tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X phê chuẩn bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa / Thông tin; Bí thư Ban cán sự.

Đại biểu Quốc hội khóa XI.

Tháng 8/2002: tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XI, được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư  Trung ương Đảng.

Từ 28/6/2006:  Tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành ủy và giữ chức Bí thư Thành ủy Hà Nội.

29/7/2006: Thôi không tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2006-2010.

Tháng 10/2010, tại Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XV được bầu giữ chức vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội.

10. Ông Trần Đại Quang

 

 Sinh ngày: 12/10/1956.

Quê quán: Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.

Dân tộc: Kinh.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 26/7/1980.

Trình độ học vấn: Phó giáo sư-Tiến sỹ Luật.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác:

- Tháng 7/1972: Tham gia cách mạng.

- Trước năm 2006: Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, Bộ Công an.

- Tháng 4/2006: Thiếu tướng, Thứ trưởng Bộ Công an.

- Tháng 4/2006: Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2006-2010.

- Tháng 4/2007: Được thăng hàm Trung tướng.

 11. Bà Tòng Thị Phóng

 

Sinh ngày 10/2/1954.

Quê quán: phường Chiềng An, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Dân tộc: Thái.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 20/11/1981.

Trình độ học vấn: Cử nhân Luật.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác
:

Tháng 6/1965: Tham gia cách mạng

1991-1996: Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La.

Tháng 6/1996: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Sơn La.

Tháng 9/1997: Phó Chủ nhiệm kiêm nhiệm Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.

Tháng 1/2001: Đại hội lần thứ 11 Đảng bộ Sơn La bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phân công Bí thư Trung ương Đảng.

Tháng 5/2002: Đại biểu Quốc hội khóa XI.

Tháng 9/2002: Trưởng Ban Dân vận Trung ương.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phân công Bí thư Trung ương Đảng.

Ngày 23/7/2007: tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XII.

12. Ông Ngô Văn Dụ

 

Sinh ngày: 21/12/1947.

Quê quán: huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

Dân tộc: Kinh.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 10/3/1969.

Trình độ học vấn: Đại học Kinh tế.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác:

Tháng 5/1962: Tham gia cách mạng.

Từ năm 1996: Phó Văn phòng Trung ương Đảng.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phân công giữ chức Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 1/2009: tại Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), được bầu vào Ban Bí thư.

13. Ông Đinh Thế Huynh

 

 Sinh ngày: 15/5/1953.

Quê quán: Xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.

Dân tộc: Kinh.

Vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 8/8/1974.

Trình độ học vấn: Tiến sĩ báo chí.

Lý luận chính trị: Cao cấp.

Tóm tắt quá trình công tác:
 
Tháng 8/1971: Tham gia cách mạng.

Năm 1998: Phó Tổng Biên tập báo Nhân dân.

Tháng 4/2001: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 

Tháng 6/2001: Tổng Biên tập báo Nhân dân.

Tháng 8/2005: tại Đại hội Nhà báo Việt Nam lần thứ VIII được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

Tháng 4/2006: tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

Tháng 8/2010: tại Đại hội Nhà báo Việt Nam lần thứ IX được bầu tái cử chức Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam.

14. Ông Nguyễn Xuân Phúc

 

Sinh ngày 20/7/1954.

Quê quán: xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: không

Trình độ học vấn: Đại học Kinh tế, Lý luận chính trị cao cấp.

Ngày vào Đảng Cộng sản Việt Nam: 12/5/1982.

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X; Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

Đại biểu Quốc hội khóa XI.


Nhà vận động dân chủ Vũ Cao Quận lâm bệnh nặng


Cựu chiến binh và là người vận động dân chủ Vũ Cao Quận ở Hải Phòng đang lâm bệnh nặng, theo tin từ Việt Nam cho biết hôm thứ tư.

Một số nhà dân chủ của Việt Nam từ Hà Nội đi thăm ông, nhưng luật sư Lê Thị Công Nhân bị công an chặn bắt trên đường tới chỗ hẹn để cùng đi Hải Phòng.  Công an đã câu lưu cô đến 4 giờ chiều mới cho về. 
Nhóm dân chủ từ Hà Nội gồm có các ông Nguyễn Thanh Giang, Trần Lâm, Dương Hùng, Nguyễn Phương Anh, Ngọc Thế Phương đến nhà một lát thì ông Vũ tỉnh lại, tỏ ra vui mừng khi nhận ra họ, sau mấy ngày liền nằm liệt giường và lãng trí.  Tin mô tả ông Vũ hiện rất tiều tụy. 
10 phút sau công an địa phương cũng tới thăm và mang quà tới.  Bà Vũ Cao Quận cho biết trước khi nhóm người từ Hà Nội đến, công an đã tới hỏi thăm bao giờ ông Thanh Giang và ông Hồng Hà đến thăm. 
Nhóm bạn từ Hà Nội của ông Vũ từ giã ra về, khoảng mươi phút sau khi công an tới thăm hỏi ông.   


Ngày tưởng niệm trận hải chiến Việt Nam -Trung Quốc năm 1974


2011-01-19

Hôm nay ngày 19 tháng Giêng – Ngày Tưởng Niệm Trận Hải Chiến Hoàng Sa khi hải quân Việt Nam Cộng Hòa ra sức ngăn chận Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, qua đó 74 chiến sĩ hải quân và người nhái của VNCH tử trận.

Wikipedia

Bản đồ vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông. Wikipedia


Sự kiện đó gợi nhớ như thế nào đối với những người trong cuộc, và nhất là có ý nghĩa ra sao ? Thanh Quang trình bày chi tiết sau đây:

Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư HQ4

Trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974 hẳn mãi đậm nét trong tâm trí của những chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Hòa từng trực tiếp tham chiến, trong tâm trí của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và của người dân Việt – và cả thế giới – yêu chuộng tự do và hoà bình.
Nhân ngày kỷ niệm này, Nguyên Hạm Trưởng Vũ Hữu San chỉ huy Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư HQ4 trực tiếp tham chiến trong trận đánh đó bày tỏ xúc động như sau:
Hạm trưởng Vũ Hữu San: Tôi bồi hồi nhớ lại Hoàng Sa khi bạn đồng ngũ đã vĩnh viễn ra đi. Tôi nhớ các bạn đã hy sinh trong lửa đạn, những anh em tác chiến ngoài ổ súng, ở Đài Chỉ Huy, trong công tác phòng tai cứu hoả, những anh em bên kỹ thuật…Chúng tôi đến giờ này vẫn nhớ đến anh em. Chắc mọi người bồi hồi đọc lại biến cố này thì cũng thấy là phía bên Trung Cộng nó cũng bực mình chiếc Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư của chúng tôi lắm. 
Tôi nhớ các bạn đã hy sinh trong lửa đạn, những anh em tác chiến ngoài ổ súng, ở Đài Chỉ Huy, trong công tác phòng tai cứu hoả, những anh em bên kỹ thuật…Chúng tôi đến giờ này vẫn nhớ đến anh em.
Vì sử liệu của nó có ghi rõ rằng Quân Uỷ Trung ương của chúng nó có cả Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh, Đặng 
Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư
Khu trục hạm HQ4 Trần Khánh Dư.Source lichsuvn.info
Tiểu Bình, Hứa Thế Hữu họp nhau liên miên trong cả bao nhiêu ngày để lên kế hoạch tiêu diệt Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư HQ4 của chúng tôi. Nhưng giữa vòng lửa đạn đó, khi bị vây bởi cả một hạm đội của Trung Cộng, chúng tôi vẫn oai nghiêm và vững vàng ra khỏi vòng lửa đạn ấy.
Trong số những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh có Hạm Trưởng Nguỵ Văn Thà chỉ huy chiếc Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, để lại nỗi tiếc thương cho thân nhân, bằng hữu, nhất là những bạn đồng khoá với ông. Một trong những người đồng khoá và thân thiết của Hạm Trưởng Nguỵ Văn Thà, là sĩ quan hải quân Nguyễn Tạ Quang, bày tỏ nỗi "tri âm khóc hận" ấy như sau:
Hải quân Trung tá Nguyễn Tạ Quang: Anh Nguỵ Văn Thà với chúng tôi là bạn cùng khoá, tức khoá 12 sĩ quan hải quan Nha Trang. Chúng tôi nhập học năm 1963 và đến năm 1965 chúng tôi ra trường. Ngoài tình đồng khoá, chúng tôi là đôi bạn rất thân nhau. Khi trận Hoàng Sa xảy ra vào ngày 19 tháng Giêng năm 74 thì lúc đó tôi đang ở Cần Thơ, gọi là Vùng 4 Sông Ngòi, còn anh Thà đang đi hạm đội. Khi chúng tôi nhận được tin hải chiến qua Trung Tâm Hành Quân thì rất xúc động, theo dõi trận đó từng giây phút một. 
Trong thời điểm đó, chúng tôi cũng rất hãnh diện cho anh Nguỵ Văn Thà, vì đó là trận hải chiến duy nhất có một hạm trưởng đi theo truyền thống là chết theo chiến hạm.
Đến khi biết được anh Thà hy sinh theo tàu, mặc dù là 1 quân nhân, thực sự tôi xúc động vô cùng, và hầu hết anh em trong cùng khoá không cầm được nước mắt. Tôi thấy đây là một mất mát lớn lao cho anh em đồng khoá với anh Nguỵ Văn Thà. Nhưng trong thời điểm đó, chúng tôi cũng rất hãnh diện cho anh Nguỵ Văn Thà, vì đó là trận hải chiến duy nhất có một hạm trưởng đi theo truyền thống là chết theo chiến hạm. Và hàng năm chúng tôi đều họp khoá anh em lại để tưởng niệm những anh em đã khuất, trong đó có anh Nguỵ Văn Thà.

Bảo vệ Hoàng Sa bằng luật biển của LHQ

Trận hải chiến Hoàng Sa diễn ra cách nay khá lâu – đã 37 năm qua, nhưng ý nghĩa lịch sử của nó sẽ khó nhạt nhoà ở người dân Việt có tâm huyết với đất nước vốn đang âu lo hiểm hoạ Phương Bắc ngày càng đe doạ đáng ngại đến sự tồn vong của quê hương Việt Nam. Nhân thời điểm kỷ niệm này, LS Nguyễn Thành, chuyên gia về Luật Biển Liên Hiệp Quốc, Điều phối viên 
 Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10,
Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10. Source Blog hoangcodinh
của Ủy Ban Công Lý Và Hoà Bình Cho Hoàng Sa và Trường Sa, trụ sở tại Florida, Hoa Kỳ nhận xét về ý nghĩa đó như sau:
Luật sư Nguyễn Thành: Ý nghĩa lịch sử của trận Hoàng Sa là bảo vệ chủ quyền dù rằng lực lượng hải quân của Việt Nam Cộng Hòa yếu hơn nhưng vẫn chống lại hải quân Trung Quốc. Do đó, vào ngày 22 tháng Giêng này, tại San Jose, California, Hoa Kỳ, chúng tôi phát huy tinh thần đó. 
Ngày xưa có súng đạn thì Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa. Ngày nay chúng ta mất nước rồi thì chúng tôi bảo vệ Hoàng Sa bằng luật biển Liên Hiệp Quốc bởi vì Hà Nội đang toan tính giao cho Trung Quốc Hoàng Sa, Trường Sa và một phần lớn Vịnh Bắc Việt qua 2 hồ sơ họ đã nộp cho Liên Hiệp Quốc.
Ngày xưa có súng đạn thì Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa. Ngày nay chúng ta mất nước rồi thì chúng tôi bảo vệ Hoàng Sa bằng luật biển Liên Hiệp Quốc bởi vì Hà Nội đang toan tính giao cho Trung Quốc Hoàng Sa, Trường Sa và một phần lớn Vịnh Bắc Việt qua 2 hồ sơ họ đã nộp cho Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi phát huy tinh thần bảo vệ chủ quyền bằng mọi giá, từ trận Hoàng Sa tới ngày hôm nay. 
Trong khi cộng sản bán nước thì anh em giữ Hoàng Sa, Trường Sa năm đó mặc dù rất yếu. Còn ngày hôm nay chúng tôi cố gắng ngăn chận 2 hồ sơ của CS tại Uỷ Ban Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc trong ngày Lễ Tưởng Niệm Hoàng Sa tổ chức tại San Jose vào 22 tháng giêng này.
Hạm trưởng Vũ Hữu San nhận xét về ý nghĩa lịch sử của trận hải chiến Hoàng Sa theo cái nhìn của một nhà quân sự:
Hạm trưởng Vũ Hữu San: Trận hải chiến Hoàng Sa có tầm quan trọng lớn trong lịch sử, nhất là đối với những người như chúng tôi. Thứ nhất về hải quân và quân đội, đây là lần đầu tiên ở Đông Nam Á có trận chiến xảy ra giữa biển, mà lại là một nước nhỏ đánh với một nước lớn nhất Á Châu. Và lịch sử sẽ khắc ghi, chẳng hạn, rằng sáng hôm đó, Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư HQ4 đang giữa vòng vây của Trung Cộng đã nổ những phát súng đầu tiên. 
Và cho đến ngày nay chúng ta cũng không thể nào quên được kẻ thù Phương Bắc cả mấy ngàn năm vẫn có tham vọng xâm lược vậy thôi. Điều tối hậu của dân VN là phải đánh đuổi họ để giữ chủ quyền của mình. Chúng ta phải giữ vững tinh thần đó
Và sau cùng lực lượng 2 bên đều thiệt hại.v.v… Khi chúng tôi về tới bến được rồi thì có những nhạc sĩ sáng tác nhạc chẳng hạn như là "HQ4 đánh chìm tàu Trung Cộng". Rồi có những bài báo về trận hải chiến đó, mà sau này trở thành những chứng liệu lịch sử ghi nhận chúng ta là những người đầu tiên dám đánh với bọn Tàu xâm lược ở ngoài biển xa bờ tới 400-500 cây số. Đặc biệt là chiến trận đó cho thấy hải quân Việt Nam Cộng Hòa vì chủ quyền đất nước mà dám đương đầu với 1 thế lực mạnh hơn rất nhiều. 
Huy hiệu Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư HQ4
Huy hiệu Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư HQ4
Và cho đến ngày nay chúng ta cũng không thể nào quên được kẻ thù Phương Bắc cả mấy ngàn năm vẫn có tham vọng xâm lược vậy thôi. Điều tối hậu của dân VN là phải đánh đuổi họ để giữ chủ quyền của mình. Chúng ta phải giữ vững tinh thần đó, tinh thần như hải chiến Hoàng Sa để tiếp tay cho những người dân Việt yêu nước tranh đấu giành lại giang sơn hiện thuộc CS và biển Đông đang mất dần vào tay Trung Quốc.
Có lẽ nhân dịp này, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng lấn lướt Việt Nam, câu hỏi cũng cần được nêu lên là biển, đảo VN do tổ tiên để lại được nhà cầm quyền Hà Nội bảo vệ ra sao ? Hạm Trưởng Vũ Hữu San cho biết:
Hạm trưởng Vũ Hữu San: Chúng tôi rất buồn, vì với tư cách người lính chúng tôi thấy giặc đến nhà ngay cả đàn bà cũng phải đánh. Trong khi Trung Quốc vô trong nhà mình, giết người mình, giết cả dân thường, không cho họ đánh cá cùng nhiều hành động lấn lướt khác – rất nhiều lần.
Tôi nhớ trước khi xảy ra trận hải chiến đó 1-2 ngày, chính tôi từng bắn nó để đe doạ nó rồi. Tôi đã từng dùng tàu đâm bể Đài Chỉ Huy của 1 tàu địch. Vì vậy mà nó lùi ra. Tôi nghĩ nếu chúng ta làm mạnh thì nhất định bọn Tàu sẽ lùi lại. Và tôi rất bực mình là nhà cầm quyền Hà Nội không phản ứng gì hết.
Đặc biệt là chiến trận đó cho thấy hải quân Việt Nam Cộng Hòa vì chủ quyền đất nước mà dám đương đầu với 1 thế lực mạnh hơn rất nhiều.

Bài học từ trận Hoàng Sa

Một câu hỏi khác cũng cần được nêu lên là cuộc hải chiến Hoàng Sa có thể giúp mang lại bài học như thế nào ? Hạm Trưởng Vũ Hữu San nhận xét:
Hạm trưởng Vũ Hữu San: Vụ Hoàng Sa năm 1974 nhất định phải đánh rồi, vì đất của mình mà nó vô xâm chiếm. Lúc đó nó chiếm mất 3-4 đảo rồi. Riêng Khu Trục Hạm Trần Khánh Giư với lực lượng cơ hữu của tôi đã chiếm lại được 1 đảo. Chiếc HQ16 cũng mang quân lên giữ được 1 đảo. 
Đến lúc chúng tôi muốn chiếm lại các đảo Duy Mộng và Quang Hoà thì không làm được vì các chiến hạm không đến được đúng lúc. Đáng lẽ ra 4 chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa đều vây vào chỗ đó mình mới có hy vọng chiếm được mục tiêu đó. Điều đó không thực hiện được. Và giờ này tôi vẫn nghĩ rằng chúng ta cần phải rút tỉa bài học. Thì nhân ngày Tưởng Niệm Hoàng Sa này, những chiến sĩ đã hy sinh rồi, tôi nghĩ bây giờ chúng ta phải cứu cho những người mới bằng cách là phải nghiên cứu lại, phải biết tại sao lại xảy ra những chuyện như vậy. 
Qua hải chiến Hoàng Sa, chúng tôi suy luận rằng trong tương lai sẽ xảy ra biến cố tương tư. Vì Phương Bắc không bao giờ ngưng lấn chiếm biển Đông.
Qua hải chiến Hoàng Sa, chúng tôi suy luận rằng trong tương lai sẽ xảy ra biến cố tương tư. Vì Phương Bắc không bao giờ ngưng lấn chiếm biển Đông. 
Chính phủ, quân đội hay hải quân phải biết rằng muốn chiến thắng phải gởi xung lực. Chúng tôi chỉ có 4 chiến hạm trong tổng số mấy chục chiến hạm ra tham chiến ngoài đó. Có thể phải đưa nhiều chiến hạm hơn nữa ra để làm công tác quan trọng cho vận mệnh đất nước. Chúng tôi cũng lấy làm tiếc là không quân cũng không bay ra Hoàng Sa khiến các bạn mất dịp góp mặt trong quân sử VN. Đánh nhau thì cần phải dốc toàn lực. Nếu cần thì toàn dân chiến đấu. Trong trận Hoàng Sa chúng tôi vô cùng cơ đơn. Chúng tôi xin phép là vì trong tuổi đã già yếu rồi, phải nói lên lời cuối của chúng tôi để mong rằng thế hệ tương lai học hỏi.
Cuộc hải chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng Giêng năm 1974 ấy có lẽ khiến người dân Việt liên tưởng tới di chúc của Vua Trần Nhân Tôn cách nay 700 năm để lại cho con cháu rằng "Các ngươi chớ quên nước lớn thường làm trái đạo. Hoạ muôn đời của ta là Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới, luôn bầy đặt chuyện để gây hấn, không thôn tính thì gậm nhấm đất đai của ta. Vậy các ngươi phải nhớ lời ta dặn. Một tất đất cũng không để lọt vào tay kẻ thù. Đấy là di chúc cho con cháu muốn đời".
Liệu di chúc thiêng liêng đó có được con cháu hữu trách trong nước làm đúng với ý của Ngài hay không ?

Theo dòng thời sự:


# Hướng dẫn thêm về Biểu tình kiên định ôn hòa - LM Ly'


(Lẽ phải Dân cần làm 60 
Hướng dẫn thêm về Biểu tình kiên định ôn hòa
SỨC MẠNH LUÔN TẤT THẮNG
CỦA BIỂU TÌNH ÔN HÒA BẤT BẠO ĐỘNG TOÀN DIỆN
Lm TNLT Nguyễn Văn Lý - Huế 20-1-2011
1.  Biểu tình là gì ? Là biểu tỏ một điều chính đáng nào đó mà 1 người hoặc nhiều người muốn buộc đối tượng phải lựa chọn : a)- Hoặc lắng nghe, thấu hiểu và nghiêm túc giải quyết điều khẩn thiết ấy; b)- Hoặc phải chịu thua thiệt, mất uy tín, và có thể mất tất cả,  vì đối tượng cố chấp sa lì trong sai lầm hoặc tội ác, quyết tâm lãng tránh không muốn nghe qua những lối diễn đạt thông thường, khiến người/nhóm người muốn biểu tỏ phải tiêu tốn nhiều sức lực, thời giờ, tài sản, có khi cả danh dự mà rất khó đạt được hiệu quả dù đã kéo dài đến 20-30-40-50 năm hoặc lâu hơn. Trong sinh hoạt giáo dục, tôn giáo, xã hội, chính trị… biểu tình thường là do một giới quần chúng nào đó muốn bày tỏ một/nhiều nguyện vọng, một/nhiều yêu cầu, một/nhiều đòi hỏi nào đó buộc các thẩm quyền liên quan phải nghiêm túc giải quyết.
2. Đấu tranh hay Biểu tình Ôn hòa Bất bạo động là gì ? Là lặp đi lặp lại bất cứ hình thức nào để biểu tỏ một cách kiên định, ôn hòa cho đến khi đạt hiệu quả, thông qua lời nói, tiếng hát, biểu ngữ, cầu nguyện, Lễ nghi Tôn giáo, mệt nhọc, khổ hạnh, đói khát, nhịn ăn, nhịn uống, mồ hôi, nước mắt, bệnh tật, xương máu, sinh mạng của một/nhiều người, nhưng kiềm chế tuyệt đối không dùng đến bất cứ một loại vũ khí, hung khí nào có thể gây thương tích thể xác hoặc sát thương bất cứ đối tượng nào, kể cả gây tổn thương qua các hình thức ngôn ngữ thông thường. Nơi người Chiến sĩ Dân chủ Hòa bình (NCSDCHB), mọi hình thức đấu tranh đều là biểu tình và mọi hình thức biểu tình đều là đấu tranh. Đấu tranh tạo áp lực cao nhất và hiệu quả hòa bình vững bền nhất là Đấu tranh/Biểu tình ôn hòa bất bạo động toàn diện (ĐT/BTÔHBBĐTD) của cá nhân, nhất là của tập thể.
3. Đấu tranh/Biểu tình Ôn hòa Bất bạo động Toàn diện là gì ? Cần xác tín một chân lý ngàn đời rằng : Việc giáo dục và chuyển đổi tâm hồn con người là kỳ công của riêng chính Thượng Đế, con người không thể làm được, do đó, trong đấu tranh, NCSDCHB hằng ngày phải luôn thiền định - cầu nguyện cho đối phương và đồng đội cùng nhau thăng tiến và thăng hoa vươn lên Chân-Thiện-Mỹ, nhờ đó biết luôn đấu tranh trong cao thượng, ung dung, ôn hòa cả trong ngôn ngữ: không la hét, mắng chửi, nguyền rủa, mạ lỵ, xúc phạm đối phương. NCSDCHB chân chính phải loại trừ mọi mầm mống phẩn uất, căm ghét, hận thù, muốn báo oán, trả đũa ra khỏi tâm trí mình, mới đủ sức mạnh cần thiết để đấu tranh cho Sự thật, Công lý, Tình thương, Tự do, Nhân phẩm, Nhân quyền, Dân chủ, Đa nguyên, Văn hóa, Văn minh, Đạo đức quân bình, lành mạnh, trong sáng và chân chính. Lòng căm ghét, hận thù sẽ làm NCSDCHB yếu đuối và không thể cảm hóa được đối phương, rất khó gia tăng bạn hữu đồng đội. Dù rất mực kiên định và quyết liệt đấu tranh bền bỉ không khoan nhượng, NCSDCHB chân chính trong suốt quá trình sử dụng ĐT/BTÔHBBĐTD chỉ có 2 thái độ mà thôi : CẢM PHỤC những ai đạo đức, anh hùng và CẢM THÔNG tất cả những ai sai lầm và tội lỗi. Không nên có và không được có thái độ thứ 3 nào khác nữa. Chỉ sai lạc và nguy hại mà thôi. Hại cho mình và hại cho đời.  NCSDCHB phải biết chấp nhận mọi thiệt thòi, hi sinh mất mát của bản thân/gia đình/tổ chức để khôn ngoan phân hóa, cô lập các phần tử cực đoan gian ác và thu phục các thành phần phục thiện của đối phương. HÃY TRAO MỌI NGƯỜI TẤT CẢ LỢI LẠC, VÀ NHẬN VÀO MÌNH MỌI THIỆT THÒI (Thiền Tây Tạng, Tạng Thư Sống Chết).
4. Vũ khí ĐT/BTÔHBBĐTD là gì ? Bất cứ điều gì trung thực, ôn hòa và nhân ái nơi bản thân NCSDCHB cũng là vũ khí hoặc được biến thành vũ khí, luôn làm đối phương bị động, lúng túng, run sợ và bất lực : lời nói, thơ văn, lời ca, tiếng hát, biểu ngữ, im lặng, điệu bộ, cười, khóc, ánh mắt, đột quỵ, nhà tù, chay tịnh, tuyệt thực, bệnh tật, bị thương, khước từ điều trị,… và tột đỉnh là cái chết. Cho đến nỗi, thường cái chết của một lãnh đạo phong trào luôn kéo theo sự chấm dứt cả một chế độ hay một chính sách : Mahatma Mohandas Karamchand Gandhi ở Ấn Độ (1948), Mục sư Matin Luther King ở Mỹ (1968), Linh mục Zerzy Piepoluszko ở Ba Lan (1984)…
Nếu người lãnh đạo phong trào chưa vững tin vào hiệu quả tuyệt đối và tất yếu của ĐT/BTÔHBBĐTD, thành phần tham gia có những tham vọng riêng, hoặc ảo tưởng nôn nóng vượt quá năng lực mình, hoặc thích mạo hiểm phiêu lưu theo cá tính, hoặc cố chấp theo định kiến xơ cứng lỗi thời, hoặc thiếu kiềm chế trước cám dỗ nông cạn của bạo động, hoặc thiếu kiên nhẫn do đợi chờ quá mõi mệt lâu ngày, hoặc đám đông tham gia chưa thấm nhuần sức mạnh chân chính của ĐT/BTÔHBBĐTD, thì luôn phát sinh 1 trong 3 hậu quả :
4.1. không thể hoặc rất khó thành công (bất bạo động nửa vời, pha trộn quá nhiều bạo động, dù chỉ là bạo động trong lời nói : hằn học, chua cay, độc ngôn, đâm chọc, cường điệu, mỉa mai, thô tục);
4.2. thành công với nhiều đổ vỡ phải tốn nhiều công sức hàn gắn sửa chữa (không bất bạo động tuyệt đối và toàn diện);
4.3. được xem là thành công tạm bợ hời hời bề ngoài trước mắt, không phải thành công chân chính thật sự, nên không thể ổn định vững bền, chắc chắn phát sinh những bất công, sai lầm, gian trá và các tội ác mới, vì liều lĩnh lấy sai lầm này chữa trị sai lầm kia, lấy tội ác mới lớn và nhiều hơn thay cho tội ác cũ, với cường độ gấp nhiều lần, rồi lấy tuyên truyền mà bịp lừa và bít lấp bằng thủ đoạn nuôi dưỡng sự sợ hãi và gian trá (phong trào CS quốc tế,…).
Cần phải dứt khoát khẳng định và xác tín : Chỉ có ĐT/BTÔHBBĐTD luôn dẫn đến thành công vững bền, không đổ vỡ, trong khoan dung, đạo đức, trung thực, nhân ái, công lý, thăng tiến, thăng hoa, văn hóa, văn minh, hòa bình mà thôi. Không có con đường nào khác, không những cho Việt Nam mà còn cho cả hoàn cầu. "Khi phê phán đối phương, chỉ nên phê phán đến 80% tội lỗi của đối phương thôi, chừa lại 20% cho bức xúc, để nếu do bức xúc mà cuồng nộ lên, thì cũng không vượt quá sự thật, tránh gây bất công cho đối phương" (Mahatma Gandhi). Một sự thật, lẽ phải được nêu lên trong căm thù uất hận thì không còn là sự thật nguyên vẹn nữa, dễ bị méo mó mờ đục, lại phản cảm biến thành sự dối trá - bất công mới.
Sẽ có một số người ham mê bạo lực và chạy theo thành công nông cạn, xuyên tạc rằng đây chi là con đường và phương pháp đấu tranh cuội, do CS mớm cho, cốt để CS tiếp tục cai trị lâu dài. Chúng ta tỉnh táo không nghe theo lập luận thiếu nền tảng đạo đức đó, quyết tâm đấu tranh cho một Việt Nam thật sự đạo đức, thăng tiến và hòa bình vững bền, chứ không chỉ là bạo lực thay cho bạo lực, gián ác thay cho gian ác, hận thù thay cho hận thù, mê lầm thay cho mê lầm, chìm đắm trong lẩn quẩn. Phải thay chế độ CS bằng một chế độ tốt hơn về mọi mặt.
5. Thời gian & Địa điểm : Bất cứ lúc nào, nơi đâu. Không cần kéo đi xa, không cần về thành phố lớn (tốn kém, dễ bị tổn thất không/chưa cần thiết). Không cần xảy ra trước cơ quan bạo quyền (thách đố quá mức cần thiết). Chỉ cần xảy ra thật đâu đó, là có tiếng vang, là đã được nói lên cho những ai cần nghe biết rồi, nhất là suốt năm 2011 này, và nếu cần thì kéo dài qua 2012-2013…
6. Cách thức : 6.1. Cá nhân : Làm bất cứ gì cho đối phương hiểu điều mình muốn nói là đủ (có các biểu ngữ nói lên mục đích muốn nói, cầm ở tay, mang trước ngục/sau lưng… thì tốt hơn).
6.2. Tập thể : Sau Lễ nghi Tôn giáo tại một ngôi Chùa, Thánh Thất, Nhà Thờ, Tín đồ đã sẵn ở các nơi đó; hoặc sau một lớp học/thi các giáo viên/giảng viên học sinh/sinh viên đã sẵn; hoặc sau một lớp học/huấn luyện/tập huấn/hội họp các học viên/bộ đội/công an/nông dân/công nhân đã sẵn; sau phiên chợ, sau một ca lao động, các tiểu thương/đại lý/lái xe-tàu đã sẵn, … tự động kéo nhau đến bất cứ một chỗ nào đó, hát Ca Khúc/Thánh Ca…, đưa cao Biểu ngữ… Nếu có điều kiện thì làm biểu ngữ lớn-dài. Nếu không thì chỉ cần 1 tờ giấy đưa cao cho người khác thấy là đủ. Hô khẩu hiệu cách ôn hòa, trật tự. Tất cả những hình thức trên chỉ cần kéo dài trong 5-10-20-30… phút là đã làm những cuộc biểu tình thành công rồi, trong giản dị, tiết kiệm về thời gian, sức lực, tiền bạc,… rất dễ thực hiện cho mọi thành phần xã hội, bất cứ lúc nào và nơi đâu. Hoặc thân nhân, xóm làng trong một cuộc Dân oan/đơn vị Tôn giáo đòi lại nhà đất bị cưỡng chiếm, trong một phiên tòa bất công,… có thể hình thành một cuộc biểu tình rầm rộ, chấn động. Riêng các Tôn giáo phải biết tận dụng lợi thế vô cùng uy dũng của mình : Một Bạch thư, Thư chung, một buổi Thờ tự, Thánh Lễ, Tế Đàn, một cuộc Rước Kiệu, Hành Hương, một buổi Cầu nguyện chung, dù chỉ một Lời Nguyện được xướng lên… Tất cả đều có thể trở thành một phương cách đấu tranh/biểu tình rất ôn hòa mà hiệu quả rất cao, làm cho bạo quyền hết sức run sợ và lung lay tận gốc, mà đành hoàn toàn bất lực, không sao đối phó hoặc ngăn cản được.
6.3. Cần hiểu rằng ĐT/BTÔHBBĐTD là một nghệ thuật văn hóa, tu đức, chính trị cao trên mức bình dân. Do đó, không thể có chuyện thành thạo và thành công ngay trong thời gian ngắn được, mỗi cá nhân -dù là lãnh đạo hay Dân tham gia- và tập thể đều phải kiên định tự học và rút ra những kinh nghiệm quí báu cho sự nghiệp quốc vụ chung. Một thất bại, một dang dở là một bài học quí cho các lần sau cho mọi người. Chỉ cần kiên định xác tín rằng ĐT/BTÔHBBĐTD là tất thắng, đạo đức, thăng hoa, hòa bình, văn hóa, văn minh, ổn định, vững bền, không dao động lung lay do bất cứ học thuyết hay lập luận của ai khác.
7. Vài thí dụ minh họa tiêu biểu để tham khảo thành công gì hay thất bại gì ? :
Rất nhiều người trên thế giới đã sử dụng các hình thức đấu tranh bất bạo động dẫn đến thành công hoàn toàn, hoặc mức độ trong một số lãnh vực. Chỉ nguyên ở VN gần đây đã có những cuộc đấu tranh thành công của Chùa Phước Thành (Huế), giáo xứ Sao Cát (Thừa Thiên-Huế), giáo xứ Thái Hà, Tòa Khâm Sứ (Hà Nội), đang tiến hành của giáo xứ Tuyên Quang (Tuyên Quang). Ở đây tôi chỉ ghi lại vài hành động biểu tình/đấu tranh có tính minh họa của chính tôi hoặc của Dân có tôi tham dự, để quí vị tham khảo :
7.1. Sau 1975, tất cả ruộng của Giáo xứ Đốc Sơ bị Hợp tác xã Nông nghiệp xã trưng thu hết, khoảng 2 hescta, không chừa cho Giáo xứ một sào nào (theo Nghị quyết 297, phải chừa lại cho mỗi Nhà Chùa, Nhà xứ 3-5 sào (3000-5000m2). Gần cuối năm 1978 tôi về làm Quản xứ Đốc Sơ. Một sáng CN, Thánh Lễ xong tôi bảo Giáo dân : Anh Chị Em mỗi nhà một người một cái cuốc. Hôm nay Anh Chị Em và tôi cùng nhau đi cuốc ruộng cho Giáo xứ. Họ tự chọn mấy đám ruộng gần nhất, vốn là của Giáo xứ đã bị trưng thu, khoảng 3000 m2. Tôi mặc áo đen dài linh mục, đứng trên bờ, hướng dẫn khoảng 100 giáo hữu cuốc và thu hồi xong 3000 m2 đất ruộng  (vì Đốc sơ vốn là một Giáo xứ nhỏ, cộng 2 họ giáo lẻ nữa, lúc đó chỉ khoảng hơn 400 giáo hữu thôi). Cán bộ Hợp tác xã đến hỏi, tôi đáp : Ruộng này của Giáo xứ, không tự nguyện dâng hiến, chỉ bị cưỡng đoạt, nay chúng tôi chỉ lấy lại đủ 3 sào, chi phi hoa đèn Nhà Thờ. Đến nay (2011), Giáo xứ Đốc Sơ vẫn sở hữu và canh tác 3000 m2 đất ruộng ấy bình thường.
7.2. Ngày 13-8-1981, tôi cùng mệ già giúp nấu ăn và cháu Nguyễn Văn Dũng (nay đang định cư ơ Hoa Kỳ) đi hành hương La Vang từ 3 giờ sáng bằng xe khách chở cá sớm, để tránh CACS ngăn cấm người hành hương như họ vẫn thường ngăn cấm điều này từ 1975. Mặc dù năm 1980, HĐGMVN đã long trọng cùng thừa nhận La Vang là Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc của Giáo hội Công giáo VN (nay gọi là Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang, ý muốn để ngỏ rằng tuy cũng là của Giáo hội CGVN (như các tài liệu chính thức của GHCGVN vẫn thưa nhận), nhưng có tính quốc tế toàn cầu, tương tự Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Lộ Đức - Pháp, Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Fatima - Bồ Đào Nha), nhưng CSVN vẫn chỉ coi La Vang là một Giáo xứ (năm 2011 này CS vẫn gọi) như hàng vạn Giáo xứ khác ở VN, không muốn khách hành hương tự do đến đó. Năm 1981, CS cho học tập từng thôn, yêu cầu giáo dân "hành hương tại chỗ" để tiết kiệm tiền bạc, sức khỏe và thời giờ ! (?) Tôi mặc thường phục, ngồi trong góc, chỉ mong đến được La Vang để ngồi giải tội sớm cho khách hành hương tham dự Đại hội La Vang 3 năm một lần. Trên đoạn đường 60km Huế đi Quảng Trị, từ cây số 14 đến cây số 50, chúng tôi bị CA chặn 4 trạm, nói là ngăn chặn 1 bọn cướp đang tẩu thoát. Ngay tại cây số 14, tôi xuống xe, mặc áo đen dài linh mục vào, đợi trời hửng sáng, lấy sách Kinh, nguyện giờ Kinh Sáng, rồi nói to với một số Tín hữu cũng đã bị chặn lại trước hoặc sau tôi : "Anh Chị Em nào muốn đi hành hương Đức Mẹ La Vang thì đến đây "hành hương tại chỗ" với tôi. Họ không cho chúng ta đến La Vang, thì chúng ta đứng đây, hướng về Đức Mẹ La Vang, nguyện kinh cầu nguyện suốt 3 ngày đêm, khi Đại hội La Vang bế mạc, chúng ta sẽ về lại nhà." Tôi chủ sự hướng dẫn khoảng 30 Giáo hữu đứng vào lề đường, lần chuỗi Mân Côi 5 Mầu nhiệm Vui, sau 10 Kinh Kính Mừng, chúng tôi có một Lời Nguyện cầu cho các CACS đang thừa lệnh ngăn cấm chúng tôi, hát 1 Thánh Ca rồi nguyện Kinh tiếp. Sau Chuỗi Mân Côi thứ 1, họ giục chúng tôi đi nhanh lên, vì xe qua lại bắt đầu xì xào quá. Trạm thứ 2 ở gần Phò Trạch khoảng cây số 25, trạm thứ 3 ở Mỹ Chánh, cây số 40 và trạm thứ 4 ở Diên Sanh, cây số 50, ngay đoạn Đại Lộ Kinh Hoàng của Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, nơi CS đã giết hại hàng chục ngàn người Dân vô tội Quảng Trị chạy tránh bom đạn, khi CS ngăn cấm không cho Dân chạy tị nạn vào Huế. Tại 3 trạm sau, Giáo dân bị chặn càng lúc càng đông hơn, cũng Nguyện Kinh, hát Thánh Ca, cầu nguyện cho CS, Dân qua lại cũng xì xào, riêng tại Mỹ Chánh thì gần chợ nên Dân bu quanh có tới hàng trăm, CSCS cũng muốn chúng tôi đi cho rồi, nhưng không dám cắt ngang Kinh chúng tôi, mà đợi chúng tôi Nguyện Kinh xong, rồi mới giục chúng tôi đi cho nhanh… Từ trạm thứ 1, các thanh niên chở tôi bằng xe đạp, còn từ trạm thứ 4, tôi đi bộ với một số Tín hữu bị mất chỗ ngồi trên xe khách. Đường hành hương Đại hội La Vang năm 1981, hôm đó, hôm sau và hôm sau nữa được khai thông. Lần đâu tiên sau 1975, kỳ Đại hội 1981 ấy được khoảng 10.000 Tín hữu. (Từ 1998 đến nay, những kỳ Đại hội 3 năm 1 lần tương tự, có khoảng nửa triệu Tín hữu tham dự).
7.3. Trong hơn 3 tháng, từ tháng 11-2000 đến 12-2-2001, tôi treo trên tiền đường Nhà Thờ Nguyệt Biều 2 bảng : Tự Do Tôn Giáo Hay Là Chết và Chúng Tôi Cần Tự Do Tôn Giáo. Tôi cũng cắm trên ruộng của Giáo xứ mà chúng tôi đã chủ động tự thu hồi lại cho Giáo xứ 1 bảng Chúng Tôi Cần Tự Do Tôn Giáo. Giáo xứ Nguyệt Biều tuy nhỏ, chưa đến 200 Giáo dân, nhưng đã đứng vững rất kiên cường với phong trào đấu tranh. Thật đáng tiếc, sau khi tôi đi khỏi đây, 1500m2 ruộng này lại bị mất do các người trách nhiệm sau đó đã không tiếp tục duy trì tinh thần kiên cường ấy, để CS dùng thủ đoạn chiếm đoạt lại.
* Trong hơn 3 tháng, từ ngày 12-2 đến ngày 18-5-2001, tôi làm Quản xứ An Truyền, xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Tôi nhận xứ ngày 12-2, thì ngày 13-2 tôi bị quản chế chặt trong phạm vi thôn Truyền Nam ngay. Tôi đi đâu, 50-600 Giáo dân vây kín để bảo vệ. Sau mỗi Thánh Lễ, có khi tôi giải thích các sự việc xảy ra, và hô các khẩu hiệu : Đá đảo đàn áp, Đá đảo lừa dối. Giáo dân hô vang cả Nhà Thờ với khoảng 600 Giáo dân có mặt. Mỗi khi CA, Mặt trận đến gặp tôi tại Nhà xứ. Trao đổi vài câu, khi thấy CS bắt đầu giở giọng điệu tuyên truyền, tôi nhắm mắt lại, tức khắc giáo dân hát Kinh Hòa Bình để tiển đưa CS về ngay. Khi tôi bị mời đến Trụ sở xã làm việc, Giáo dân đến bao vây Trụ sở xã và hô to các khẩu hiệu, đòi CS phải để tôi về sớm,…Giáo xứ An Truyền đã liên tục biểu tình trong hơn 3 tháng, bằng các công việc truyền thống quen thuộc, nhưng đã được cử hành hoặc thực hiện trong tinh thần đấu tranh cao độ.
7.4. Ngày 18-5-2001, tôi bị bắt lần thứ 3 ở Giáo xứ An Truyền, với một lực lượng đến 600 CA, bị giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Tôi luôn mang tâm trạng người đi nhận Nhiệm sở mới đặc biệt, không phải do Đức TGM bổ nhiệm, mà là chính Chúa Kitô trực tiếp bổ nhiệm, thấy được gặp càng đông CB CS thì càng mừng, vì có dịp rọi chiếu sự thật, lẽ phải cho họ, bênh vực cho Đồng bào và các Tôn giáo. Do đó, tuy là tù nhân, chẳng những không sợ hãi mỏi mệt, nôn nóng được thoát tù, trái lại luôn mang vị thế của một Chiến sĩ chủ động chinh phục. Cả 4 lần bị bắt, tôi đều có phản ứng như nhau : Ngồi trên xe, tôi xin trao Nhiệm sở cũ cho Chúa, xin ơn soi dẫn để đủ sức thi hành nhiêm vụ mới, tức khắc tôi coi CA áp tải tôi và tài xế là những linh hồn tôi có nhiệm vụ phải cầu nguyện và giới thiệu Chúa, Sự thật, Lẽ phải cho họ. Bị đẩy vào buồng giam, tôi luôn quỳ xuông, cúi hôn nền đất, nhận Nhiệm sở mới, coi Ban Giám thị, các Cán bộ và tất cả tù nhân là những tâm hồn mà Chúa đã trao phó cho tôi chăm sóc. Dù đang tuyệt thực để phản đối, đêm đâu tiên, cả 4 lần bị bắt, tôi vẫn an giấc như ở nhà. Hôm sau, tôi đang tuyệt thực để phản đối, bị dẫn đi thẩm vấn. Bắt đầu, tôi phủ đầu chiếm thượng phong ngay : "Các ông giết được Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền, mà chừa tôi lại là sai lầm. Nay bắt được rồi, với phương tiện khoa học đầy đủ trong tay, liệu triệt tiêu tôi cho được. Nếu lượng không đủ sức triệt tiêu tôi được, thì phải cẩn thận. Vì chính tôi sẽ góp sức hạ bệ ông HCM xuống, góp sức bứng gốc thần tượng giả tạo ấy, không phải vì thù hận gì cá nhân ông ấy. Hằng ngày tôi vẫn cầu nguyện cho ông ấy hàng chục lần. Nhưng tôi phải trả lại sự thật nguyên vẹn cho Dân tộc tôi, phải giải thoát hàng trăm triệu học sinh-sinh viên khỏi học và viết những điều dối trá, trong đó có con cháu các ông." Họ bị chấn động, rơi vào thế thụ động, bất lực, vô hồn. Nói xong, tôi im lặng hoàn toàn, chỉ ngồi nhắm mắt, cầu nguyện, nghe và cười.
- Lần khác, có cả đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án, Sở Tư pháp, Sở Công an,… tất cả gần 15 người. Thấy dịp tốt, tôi ra chiêu ngay: "Các ông đừng nghĩ rằng đông mà uy hiếp được tôi. Nếu 1 triệu khẩu súng chĩa vào tôi mà Chúa không muốn, chẳng có khẩu nào nổ. Nếu 1 triệu viên đạn bắn vào tôi mà Chúa không muốn, chẳng có viên đạn nào giết tôi chết cả. Các ông đừng mất công suy nghĩ tìm biện pháp gì khuất phục tôi. Tôi cũng rét, nóng, cũng đói, khát, khổ, đau,… như mọi người, nhưng tôi có một vũ khí luôn hữu hiệu." Họ hỏi : "Vũ khì gì ?" Tôi đáp : "Tôi cười !"  Tất cả đều hụt hẫng và bối rối. Tôi áp đảo tiếp: "Cảm ơn các ông đã đến làm việc với tôi đông như vậy. Nhưng để bắt đầu, tôi xin hỏi : Ai trong các ông chưa từng lấy sự dối gạt mà làm việc thì có thể làm việc với tôi. Ai thường dùng sự dối trá mà làm việc thì đừng làm việc với tôi. Hãy đưa sự thật, lẽ phải ra làm nền tảng để làm việc với nhau. Chỉ có sự thật và lẽ phải khuất phục được nhau thôi. Ngoài ra, tôi chỉ cười." Nói xong, tôi đưa mắt một vòng nhìn thẳng vào từng người. Tất cả gần 15 đôi mắt đều cụp xuống, không ai dám nhìn thẳng vào mắt tôi cả.
- Lần khác, 2 trung tá CA thẩm vấn tôi. Tôi đang tuyệt thực khoảng trên 20 ngày rồi, ngồi chơ vơ trên ghế không tựa, nhắm mắt cầu nguyện và nghe họ mắng chửi, lên lớp… Thình lình, một tiếng sét lớn đánh rất gần, phòng bên cạnh cháy một TV, khói tỏa mù mịt, 2 trung tá hốt hoảng "khẩn trương" theo phản xạ chui xuống bàn núp. Lát sau, 2 ông đứng lên, phủi bụi áo quần, thấy tôi vẫn bình thản ngồi chơ vơ. Tôi chỉ nói nhỏ : "Sét đánh gần quá !" Họ lúng túng, bối rối, thu dọn giấy tờ cho vào cặp rồi nói :"Thôi, hôm nay chúng ta nghỉ".
Đợt thẩm vấn 2001 ấy, tôi ngồi bị thẩm vấn sáng-chiều suốt 5 tháng, không đáp 1 lời thẩm vấn nào. Ra tòa, được mặc một áo sơ-mi trắng vô tội, sau này tôi gửi nhờ gia đình đưa về, đã bị tịch thu mất, tôi nhắm mắt im lặng suốt phiên xử hoàn toàn. Tôi bị kết 15 năm + 5 năm quản chế.
7.5. Ngày 29-3-2007, tôi bị bắt tù lần thứ 4 tại Nhà Thờ Bến Củi, xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tinh Thừa Thiên-Huế. Trước đó, tôi đã cảnh báo : "Đưa tôi ra tòa, tòa chưa xử thì tôi vẫn là một linh mục bình thường, phải để tôi mặc áo linh mục. Còn nếu các ông cứ lấy bạo lực mà lôi tôi ra tòa, thì các ông tự chuốc lấy thảm bại đấy." Khi bắt tôi, phỉnh gạt là mời tôi ra trụ sở thôn để làm việc. Thực ra lấy một chăn vải xanh lớn trùm tôi lại bồng bỏ lên xe. Vào lao Thừa Phủ, cưỡng bức lột áo linh mục, tước đoạt 1 tràng Chuỗi Mân côi, 1 kính viễn thị đọc sách. Đến nay vẫn chưa trả cả 3 thứ ấy. Hôm sau, cưỡng bức tôi mặc một áo sơ-mi màu tím than của ai đó (sơ-mi này hiện được cất giữ cẩn thận, sẽ được bán đấu giá làm từ thiện thời hậu CS), ngay cả áo lót màu trắng cũng không cho mặc (tôi đòi lại và nhét vào túi quần), sợ tôi cởi áo ngoài, lộ áo trắng trong ra, lôi tôi ra tòa xử ngay, dù mới bị bắt 15 tiếng đồng hồ từ chiều hôm trước, chưa lấy được 1 lời cung nào, diễn ra PHIÊN TÒA BỊT MIỆNG 30-3-2007 tại Huế rất vui nhộn, một điển hình Biểu tình Ôn hòa Bất Bạo động Toàn diện như sau :
* Ngay từ đầu, tôi phủ nhận phiên tòa ô nhục này, nên một mặt tôi cầu nguyện rất thiết tha để được ơn Chúa soi dẫn sao cho vở kịch tôi diễn thật thành công và cầu nguyện cho Tổ quốc, Đông bào và cả CS nữa, một mặt tôi cố tình trì lại không chịu bước vào tòa, để bị 2 CA bấm chặt 2 cánh tay đến bầm tím cả tháng sau mới hết, lôi tôi đi như một con chó, thi thoảng còn bị đá thúc phía sau. 2 CA càng bực mình, càng thô bạo, tôi lại càng vui mừng, vì cả 2 ngây ngô vô tình nhập vai rất đạt mà không ngờ. Cả hội trường nóng lên từng phút khi thấy tôi bị lôi đi quá thê thảm. Tôi cố nín cười, lượng định tình hình để chọn thật nhanh 1 trong 3 phương án : - Hoặc lên tiếng mời Hội đồng xét xử, Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân, cả hội trường,… tham gia Khối 8406, như tôi vẫn mời các Cán bộ Viện Kiểm sát và CA tham gia, trong hơn 1 tháng tôi bị quản chế tại Nhà Thờ Bến Củi mỗi khi có dịp gặp. - Hoặc lên tiếng chứng minh Tự do Ngôn luận  hiện nay ở VN còn thua thời Tuyên ngôn ĐCS của Các Mác tại Luân Đôn cách đây hơn 150 năm, thời báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng tại Huế và Tiếng Chuông Rè của ông Nguyễn An Ninh tại Nam Bộ thời Thực dân Pháp cách đây gần 90 năm. - Hoặc đọc thơ để bị bịt miệng. Vì 2 phương án trên khó thành công như ý được. Tôi chọn phương án 3.
* Vì thế, ngay khi bị gọi đến tên, đứng dậy, tay được tháo còng số 8, 2 tay tìm cách mở cúc áo tím than để mặc vào áo lót trắng nhét sẵn trong quần, nhưng bị 2 CA ngăn lại, tôi vội đọc 2 trong số các câu thơ tôi dự kiến sẽ đọc trước tòa, và đã nhờ bạn hữu phổ biến trên internet : "Tòa án CS VN, Trò hề bỉ ổi ngàn năm chê cười…" Một hoặc 2 bàn tay vội bịt miệng tôi và 2 CA lôi tôi ra ngoài. Tôi thấy đã diễn ra như dự kiến, biết mình đã thành công phần nào rồi, đã thay tôi nói lên bằng hàng vạn lời rồi, nên khi bị lôi đến cửa phòng xử, tôi ngoái đầu đọc tiếp 2 câu : "Quan tòa một lũ đười ươi, tay sai nô lệ xử người nào đây ?". Bị bịt miệng lần 2 và lôi ra ngồi ở phòng cách ly. Vì thiếu thời giờ, lựa chọn, tôi đã đọc câu đầu ngôn từ quá mức cần thiết. Đáng lẽ, chỉ cần đọc "Quan tòa kịch bản sẵn rồi…" là đúng mức. Nhân đây, tôi muốn ngỏ lời xin lỗi Hội đồng xét xử hôm đó về cụm từ "lũ đười ươi" vượt quá mức cần thiết, chỉ vì thiếu thời giờ để cân nhắc lựa chọn. Tôi lại bị lôi vào tòa, bị gọi đứng dậy. Tôi đọc lại 2 câu đầu tiên, bị bịt miệng lần 3 và bị lôi ra. Rồi lại bị lôi vào tòa, bị gọi đứng lên. Tôi đọc 2 câu thơ mới : "Lầm sai ngập cả đất trời, Bạo lực, bịp lừa, độc tài, bít bưng." Bị bịt miệng lần 4, bị lôi ra. Lại bị lôi vào, tôi tận dụng đọc thơ thêm để cho các phóng viên có cơ hội chụp được hình. Tôi đọc tiếp : "Cộng sản chỉ có luật rừng, Độc tôn, độc hại, độc quyền, Hồ-Mao". Bị bịt miệng lần 5, bị lôi ra. Bị lôi vào, lại bị gọi đứng lên. Tôi đưa 2 tay bị còng lên cao và hô to : "Ô nhục, phiên tòa ô nhục !". Bị bịt miệng lần 6, tôi đưa chân phải đạp về phía vành móng ngựa. Thực ra, vành móng ngựa bằng gỗ rất cứng, khá nặng, khá xa, cách tôi trên 2m, làm sao tôi đạp hoặc đá trúng được ? Hơn nữa, lúc đó, bên trong vành móng ngựa, có 4 bạn cùng bị xử với tôi. Tôi lại đang tuyệt thực ngày thứ 8 rất yếu sức. Tôi chỉ muốn nói : Tôi đạp đổ nền tư pháp CS này. Việc dàn dựng ngụy tạo cho vành móng ngựa trượt chạy là cố ý vu cáo tôi có hành vi côn đồ quậy phá, nên phải bịt miệng (? !). Hoàn toàn bịa đặt. Tôi bị kết 8 năm + 5 năm quản chế.
7.6. Tuyệt thực để có giấy bút viết : Trong 2 đợt tù 2001-2005 và 2007-2010, tôi muốn viết một số điều về Tự do Tôn giáo và về các sai lầm của CSVN, nhưng không có giấy bút dễ dàng. Năm cuối mỗi đợt mới được giữ giấy bút riêng. Mỗi dịp các quan chức lớn của CSVN hoặc phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao,… nói dối như : "Ở VN, không hề có tù nhân chính trị, tù nhân tôn giáo, tù nhân lương tâm…", hoặc xảy ra các vụ đàn áp tại Loan Lý, Đức Mẹ Bàu Sen, Tam Tòa, Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Đồng Chiêm,… (vụ Cồn Dầu xảy ra khi tôi đã về điều trị tại Nhà Chung Huế), tôi đều tuyệt thực để hiệp thông bên này và phản đối bên kia. Bị lập biên bản chống đối, mỗi bữa cơm 1 bản, mỗi ngày 3 bản, tôi tận dụng để viết vào mặt sau của tờ biên bản những điều để bênh vực các Tôn giáo, Giáo hội Công giáo VN, phê phán CSVN, sự thật về HCM, đặt lại nền tảng đạo đức cho Dân tộc VN,… Trong 3 năm tù 2007-2010, tôi tuyệt thực hơn 50 bữa, được viết hơn 50 trang cho các CB giáo dục, an ninh, Ban Giám thị, Cục An ninh, Tổng cục An ninh và có thể cả Bộ trưởng Bộ CA đọc, để họ chuyển đổi từ từ. Một số CB nói nhỏ vào tai tôi: "Cảm ơn Lm, nhờ Lm chúng tôi biết được nhiều sự thật." hoặc : "Tôi rất thích gặp Lm để nghe Lm nói, nhưng khó gặp được quá. Chúng tôi biết những điều Lm nói là đúng"…
7.7. Liên tục biểu tình một mình ngoài đường trước cổng Nhà Chung hoặc bên trong 2 cổng và trong sân Tòa TGM và Nhà Chung Tổng GP Huế. Trong các ngày CN 9, 10, 12, 13, 15, CN 16, 17-1, tôi đều có đơn độc biểu tình, hoặc để hiệp thông với các cuộc biểu tình có thể diễn ra trong quốc nội hoặc hải ngoại (CN 9 & 16-1, chính ngày khai mạc Đại hội ĐCSVN 12-1), hoặc để tự biểu tình 1 mình (10, 13, 15, 17-1: Hiệp định Paris 1973). Tôi mặc áo, quàng khăn, đội mũ đều trắng, lăn xe đẩy, hoặc với một dây trợ lực chân phải bị liệt, đem theo ô nếu mưa, trước ngực/sau lưng mang các biểu ngữ có thể thay đổi : DÂN LÀ CHỦ, CHỐNG GIẶC TÀU, VN ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG, ĐA NGUYÊN HAY LÀ TÀN LỤI, ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG LÀ THĂNG HOA, ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG LÀ HÒA BÌNH, ĐA NGUYÊN ĐA ĐẢNG LÀ VỮNG BỀN, KIÊN TRÌ GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ CS…
Chỉ có sáng ngày 10-1, tôi lách ra được ngoài đường Phan Đình Phùng, trước cổng Nhà Chung, do đa số CA đi uống cà phê sáng, số ít còn lại ngồi núp mưa lạnh trong lán công nhân làm cầu Phủ Cam gần đó, các CA chỉ yêu cầu tôi vào, chứ không dám đụng vào người tôi, sợ tôi ngã lăn ra thì quá phiền, tôi đứng và ngồi bên lề đường, một người cháu cầm ô che mưa giúp. Vì gió khá lạnh, trời lại mưa, quần áo tôi bị ướt, nên 12g30 thì 2 Đức Giám mục nhờ 2 Linh mục đến bảo tôi về phòng kẻo sinh bệnh. Tôi đã vâng lời, nhưng trước khi về, tôi đã ngỏ lời với hơn 15 CA bao vây tôi, kêu gọi họ ủng hộ việc chống giặc Tàu và chuyển đổi chế độ CS. Họ nghiêm túc nghe trong im lặng suy tư.
Các ngày khác, tôi chỉ lăn xe chạy qua lại giữa 2 cổng Tòa TGM và Nhà Chung Tổng GP Huế, không thể ra ngoài được, vì mỗi cổng khoảng 15 CA canh gác ngày đêm, thoáng thấy tôi là CA khép chặt cổng ngay, đứng chắn bên ngoài, che không cho Dân qua lại đọc thấy các biểu ngữ tôi mang trên mình. Mỗi ngày, tôi lăn xe 1 lần buổi chiều khoảng 1-2 giờ đồng hồ, có ngày 2 lần sáng chiều 3-4 giờ. Riêng 3 ngày nay 18, 19 và 20-1, tôi bị cảm lạnh, sổ mũi nhiều, không ra ngoài trời được.
Tôi vừa chạy, vừa tiếp xúc một số Học viên tham dự các lớp học ở Trung tâm Mục vụ Tòa TGM, hoặc Dân chúng qua lại Nhà Chung, hoặc chính các CA, vừa giải thích cho họ hiểu về Đại Họa Giặc Tàu; Tại sao muốn thắng Giặc Tàu thì phải chuyển đổi thành Dân chủ Đa nguyên Đa đảng ? Tại sao nếu không Đa nguyên thì phải Tàn Lụi, Tại sao Đa nguyên là Hòa bình, là Thăng hoa, là Vững bền,…Và muốn thế thì phải Giải Thể Chế độ CS Độc tài Độc đảng…
Tôi sẽ tiếp tục biểu tình một mình kiểu này, ít nhất mỗi ngày 1 giờ như tập đi, suốt năm 2011, nếu cần thì qua năm 2012-2013…Những dịp cao điểm thì tăng giờ "điên khùng" lên. Đa số đều hiểu việc tôi làm có vẻ dở dở ương ương, nửa điên nửa dại, nửa cuồng tín… có thể gây xấu hổ, khó chịu hoặc khổ tâm cho một số người thân không hiểu, nhưng thực ra góp phần nuôi dưỡng phong trào cả quốc nội lẫn hải ngoại, gây lúng túng khó xử cho BCT ĐCSVN rất nhiều, làm lung lay CSVN tận gốc. Co lẽ sau Đại hội Đảng CSVN khóa XI, đã có lãnh đạo chịu trách nhiệm, CA sẽ chấm dứt cuộc hành quân canh gác tôi ngày đêm bằng 1 trong các biện pháp sau đây :
- Bắt đưa vô lại trại giam ít nhất 2-3 năm - 5 năm rồi tính. (BCT mới chấp nhận chịu áp lực quốc tế, kể cả tình huống xấu nhất xảy ra : tôi sẽ chết. Tôi rất mong giải pháp này, nếu Chúa đón nhận tôi).
- Áp lực Tòa TGM Huế để đưa tôi đi quản chế tại một giáo xứ nhỏ và hẻo lánh nào đó. (Tòa TGM Huế hiện nay thừa sức đề kháng lại, không như 3 lần trước đây nữa đâu).
- Mong ước tôi sớm lên tiếp tục ĐT/BTÔHBBĐTD trên Thiên đàng. (Do Chúa quyết định).
- Rút bớt lực lượng rồi đặt một chốt canh gác thường trực 2 cổng Tòa TGM và Nhà Chung Huế. (Sẵn thuế của Dân, đặt bao nhiêu chốt chẳng được. Chỉ đến thế thôi. Bế tắc. Bó tay. Hết).
Còn tôi thì vẫn luôn : An nhiên tĩnh định trước ma lực khen chê.
Và : Con tỉnh thức giữa cuộc đời đầy giông bão.
Tình con từng ngày từng bữa cháy tiêu hao.
Bừng sáng chân an tận đáy sâu tĩnh định.
Buông bỏ lao xao, Phượng hoàng mãi bay cao.
Giờ phút nào tôi cũng sẵn sàng nhận Nhiệm Sở Mới trong một trại giam nào đó, do Chúa Kitô trực tiếp cắt cử, trên Giấy Bổ Nhiệm bằng vàng ròng 999.999.999. @@@      

Lm TNLT Nguyễn Văn Lý, Huế 20-01-2011