Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

Rối Loạn Tâm Thần Ở Người Tỵ Nạn


Sức KhoẻBác sĩ Nguyễn Ý Đức
Tỵ nạn là những người bắt buộc phải rời bỏ tổ quốc, gia đình vì lý do chiến tranh hoặc đàn áp chính trị. Họ ra đi để khỏi bị đe dọa ngược đãi, đối xử tàn bạo, tù đầy, kỳ thị, bao vây kinh tế. Gia đình họ ở trong tình trạng phân chia, ly tán cũng như chịu đựng nhiều rủi ro.
Sau đó khi rời khỏi quê hương, họ thường thường phải sống một thời gian lâu trong các trại tỵ nạn trước khi được đưa đi định cư. Ở những nơi đây, họ gặp nhiều khó khăn thích nghi với nếp sống mới cũng như xây dựng lại nghề nghiệp, gia đình.


Từ năm 1975, người tỵ nạn Việt Nam đã du nhập vào Hoa Kỳ với một số lượng đáng kể. Hiện nay họ có khoảng trên một triệu người ở quốc gia này.
Vào một xã hội mới, họ có rất nhiều vấn đề phải giải quyết. Sức khoẻ tâm thần là một trong nhiều vấn đề, nhất là ở nhóm Cựu Tù Nhân Cải Tạo tới sau. Vào thập niên 1980, vẫn còn nhiều quân cán chánh của chính quyền Sài Gòn bị tập trung cải tạo. Năm 1987, chính quyền Hoa Kỳ cử tướng John Vessey tới Hà Nội để thảo luận việc thả các tù nhân này. Rồi sau nhiều cuộc thương thuyết, một chương trình trong đó các cựu tù nhân cải tạo và gia đình được nhận vào định cư tại Mỹ.
Điều kiện là chỉ những người bị tù cải tạo trên ba năm mới được ra đi theo đạo luật này. Đa số những cựu tù nhân và vợ của họ đều ở lứa tuổi ngoài 50.
Hoàn cảnh đưa tới rối loạn tâm thần
Hầu hết anh chị em cựu tù nhân tới nước Mỹ với một cơ thể suy nhược, một tinh thần chán nản tuyệt vọng vì những cay đắng của các năm cải tạo và những theo dõi kỳ thị về mọi mặt sau khi được hả khỏi tù.
Sang đến nơi, họ phải đối diện với một viễn tượng không mấy sáng sủa. Về ngôn ngữ, về công ăn việc làm, về tương lai cho các con. Ở lại thì cũng khổ sở cả vật chất lẫn tinh thần.
Một số rơi vào tâm trạng buồn chán, thất vọng kèm theo một chút hờn giận mông lung. Hờn giận với chính quyền bản xứ đã bỏ rơi họ trong chiến tuyến trước đây; với đồng đội may mắn ra đi ngay sau khi cuộc chiến kết thúc. Họ cũng có những lo ngại cho anh em còn ở lại, những cảm nghĩ ân hận đã không giúp họ cùng ra đi.
Rồi trong tâm trạng họ xuất hiện những mặc cảm, những tự tách rời, xa lánh…, những buông xuôi, trầm cảm, căng thẳng.
Kết quả các nghiên cứu sơ khởi vào đầu năm 1990 cho thấy những cựu tù nhân cải tạo bị chấn thương tâm thần rất cao, gấp đôi so với người tị nạn thường.
Lúc mới tới, họ thấy như được giải thoát khỏi những thảm cảnh cho gia đình và bản thân. Họ hăng hái nhập cuộc.
Rồi chỉ vài tháng sau, va chạm với thực tế khó khăn, nhiều người trở nên hoang mang, lo sợ, nghi ngờ.
Người tỵ nạn Việt nam có nhiều nguy cơ trầm cảm. 95% có triệu chứng thể xác, 74% bị chóng mặt, 50% bị nhức đầu, 24% hồi hộp. Các dấu hiệu thường thấy là né tránh, hốt hoảng, tê tái tâm hồn, ác mộng, ám ảnh. Cựu tù nhân chịu nhiều hành hạ với nhiều tích tụ những hậu quả thể xác và tâm thần. Hành hạ cũng là nguy cơ lớn đưa tới Căng Thẳng do Chấn Thương thể xác và tâm thần cũng như bệnh trầm cảm.
Vấn đề tâm thần của  người tỵ nạn Việt Nam đã được các cơ quan y tế xã
hội Hoa Kỳ lưu tâm, nghiên cứu, giúp đỡ. Nhưng có một số trở ngại cần được nêu ra.
Các trở ngại phát hiện và điều trị
Trong việc phát hiện và điều trị bệnh tâm thần ở người tỵ nạn Việt Nam, có một số vấn đề được nêu ra. Lý do là trước đây, nhiều người Việt vẫn có quan niệm không mấy chính xác về bệnh tâm thần.
a - Đã có thời kỳ người mắc bệnh tâm thần được coi như điên khùng. Họ gây ảnh hưởng không tốt cho đời sống cả gia đình, làm mất phẩm giá, danh dự của tổ tiên dòng họ.
Một quan niệm khác cho là khi mắc bệnh tâm thần sẽ trở thành yếu đuối, mất khả năng hoạt động, sẽ là một đề tài để người khác dè bĩu, coi thường. Vì thế gia đình thường thường giấu giếm, phủ nhận.
b - Một số người khác coi rối loạn về suy nghĩ, cảm xúc không phải là bệnh mà là sự trừng phạt của thần linh, một nghiệp chướng kết quả những lỗi lầm của mình từ kiếp trước. Bệnh nhân phải đền tội cho lỗi lầm của tổ tiên hoặc lỗi lầm của họ. Nhiều người chấp nhậnsố phận vì họ tin là số của họ phải như vậy.
c - Bệnh cũng được coi như do ma quỷ ám, hàng xóm láng giềng bùa ngải hoặc do mồ mả ông bà bị động, bị trù ếm.
d - Trong nhiều gia đình, con gái bị bệnh, cha mẹ giấu giếm để con lấy được chồng. Sau cưới hỏi bao nhiêu chuyện lục đục trong gia đình xẩy ra đưa tới bạo hành.
e - Gia đình cũng giấu nhẹm không chữa chạy trong nhiều năm, hy vọng là bệnh sẽ bớt đi, tai qua nạn khỏi, cho tới khi bệnh nhân quá trầm trọng, không kiềm chế nổi.
g - Trong các vụ vượt biên, vượt biển có nhiều nạn nhân các vụ hãm hiếp, đánh đập trên đường vượt biển bởi hải tặc. Nạn nhân rơi vào tình trạng đau khổ, xấu hổ, dầy vò. Nhưng gia đình giấu vì nói ra là mất thanh danh nên người ta ngần ngại không dám tìm kiếm giúp đỡ, điều trị.
h- Người Việt Nam ít dùng dịch vụ tâm thần vì văn hóa phong tục, không tin tưởng, có thành kiến với bệnh và cách trị bệnh tây phương. Họ coi người chữa bệnh như là người của chính quyền, xoi mói đời tư của họ. Họ sẽ đi lễ chùa, nhà thờ, đền miếu để cầu xin tha lỗi và xin được sống an lành, xin thuốc thần thuốc thánh về trị bệnh. Nhiều người còn tin là sau khi lập gia đình, sẽ khỏi bệnh.
i - Vào cuộc sống mới, sự bất đồng ngôn ngữ, diễn tả bệnh khó khăn dù có thông dịch, khiến họ ngại ngùng khai bệnh.
k- Không quen với lối chữa trị tâm lý vì không có các dịch vụ này ở quê hương của họ và họ thường nhờ các thầy thuốc gia đình, các vị tu hành góp ý khi có vấn đề.
l - Trị theo nhóm (group and family therapy) đều không được chấp nhận vì không muốn ai biết chuyện riêng của mình.
m - Hỏi lại chuyện cũ thường gặp khó khăn vì nó gợi lại ký ức về các cuộc hạch hỏi, kê khai lý lịch trước đây, đã xâm phạm đời tư của họ.
n - Nhiều người đã được dậy để che đậy, chịu đựng đau khổ tâm thần, để chứng tỏ là mình là người có sức mạnh. Chịu đựng và kiên nhẫn là đức tính tốt cho nên bất cứ than phiền tiêu cực nào về đời sống, về bạn bè đều là dấu hiệu của sự yếu đuối, thất bại, mất mặt.
o - Với nhiều nạn nhân, vì đã sống liên tục trong cuộc chiến kéo dài quá lâu cộng thêm quan niệm sống chịu đựng quen nên họ coi những khó khăn tâm thần như phần thêm vào khó khăn đã có nên không tìm cách chữa trị.
p - Lại nữa nạn bạo hành gia đình, chồng ức hiếp vợ cũng thường xẩy ra với hôn nhân sắp đặt không yêu thương, không hy vọng ly dị cũng làm tăng khổn lực tâm thần.
q - Nhiều người lại ngại ngùng khi phải khai tâm bệnh, tâm trạng khó khăn của mình với một thầy thuốc không cùng ngôn ngữ.
r - Nghiên cứu về hậu quả hành hạ gặp trở ngại lớn là rất khó mà kiếm được những nạn nhân vì nhiều lý do: họ không dám nói ra vì không muốn gây chú ý ở nơi bị hành hạ cũng như ở nơi mới tới định cư; không tin tưởng ở các nghiên cứu tra hỏi tin tức và e ngại những tâm tình kể lể của họ sẽ không được giữ kín.
Vài điều cần biết khi điều trị Trong việc giúp đỡ, điều trị, có một số điều cần
được lưu ý:
1 - Hệ thống y tế cần cởi mở, sẵn có với thủ tục nhẹ nhàng, dịch vụ tốt;
2 - Có một liên hệ tốt giữa người bệnh và nhân viên;
3 - Tôn trọng quan niệm cổ truyền của bệnh nhân về chữa trị, bệnh tật;
4 - Cần tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán người tỵ nạn, quan niệm của họ về bệnh tâm thần rồi từ đó tìm lời khuyên giải, chữa trị cho có hiệu quả hơn;
5 - Muốn chữa phải có sự tín nhiệm của bệnh nhân, làm sao để họ coi mình như người giúp đỡ, người bệnh như nhận được một cái gì tinh thần từ người chữa;
6 - Cần có chuyên gia hai văn hóa, hai ngôn ngữ;
7 - Giải tỏa việc nhiều bệnh nhân da vàng thường bị chuyên gia da trắng kỳ thị, không chăm sóc chu đáo.
-------------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo.
Former Political Prisoners From Viet Nam-Report of Survey Findings-Dec 1991-Center for Applied Linguistics-Refugee Service Center.
Richard F. Mollica, MD và cộng tác. The Dose-Effect Relationships between Torture and Psychiatric Symptoms in Viet Nam Ex-Political Detainees and a Comparison Group.
Journal of Nervous and Mental disease 186:543-553,1998 Robert C.Weigl, Ph.D. –Evaluating Disabilities of Vietnamese Prison Camp survivors- Boat People SOS, Inc.
Chung RC, Singer M.K.-Interpretation of Symptoms Presentation and Distress. A South East Asian Refugee Example- The Journal of Nervous and Mental Disease.183(10),639-648
 Kinzie J.D., Spero M.M., Nguyen T T, Bui A 1982- Development and Validation of Vietnamese Language Depression Rating Scale- Amerc. Journal Of Psychology,139(10),1276-1281
Phan T, Silove D 1997. The influence of culture on Psychiatric assessement: The Vietnamese Refugee. Psychiatric Sevice,48,86-90
Jacob U, Evan F.B.-Principles of Documenting Psychological evidence of Torture. Tortue, 11(3) 85-89
Reid JC, Strong T, 1988- Rehabilitation of Refugee Victim of Torture and Trauma: Principle and Service Provision in New South Wales. Medical Journal of Australia 148.34.346
Phan T. Investigating the use of Service for Vietnamese With Mental illness. Jour. Of Community Health. 25(5)411- 425
WL Hinton và các cộng sự viên -Disorders in Vietnamese Refugees: Prevalence and correlates. J Nerv Ment Dis 181:113-122


Posted on Monday, May 16 @ 12:28:30 EDT by ngochuynh
Source: 
http://www.machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=2217

Thức Hay Ngủ ?

Nợ nần, sống đời nô lệ xa nhà

Viết bởi James C. McKinley Jr
Chủ nhật, 15 Tháng 5 2011 00:00
James C. McKinley Jr. - DCVOnline lược dịch
HOUSTON – Người thợ hàn thấy các quảng cáo trên đài truyền hình ở Hà Nội quá quyến rũ, gần như quá tốt để là sự thực. Một công ty có phần của chính phủ cấp việc làm tại Hoa Kỳ và trả 15 đô-la một giờ, trả giờ làm thêm, nhiều hơn ông, Ngô Ba Chin, có thể có tại Việt Nam. 

Khi ông Ngô gặp đại diện công ty, họ yêu cầu một khoản phí 10.000 USD để giới thiệu liên lạc với một công ty Mỹ tìm kiếm người lao động. Ông thế chấp nhà và vay mượn gia đình rất nhiều để có đủ số tiền.

Ông Ngo Ba Chin (tiền cảnh) và ba người bạn thợ hàn 
Nguồn Ảnh: Michael Stravato for The New York Times

10.000 đô-la lệ phí chỉ là khởi đầu của hai năm gay go, đã khiến cho ông Ngô phá sản và sống lưu vong ở Houston. Ông là một trong số 50 thợ hàn Việt Nam trong vụ kiện là họ bị đối xử như nô lệ nước ngoài tại Hoa Kỳ.

Một vụ kiện của chính phủ kết quả là hai công ty Mỹ bị phạt 60.000.000 đô-lai, nhưng bây giờ chính phủ liên bang đã nộp đơn kiện công ty Việt Nam tuyển dụng các thợ hàn về việc tham gia vào một chương trình buôn người.

Tất cả công nhân đề cho rằng - và các công ty đã chối - họ đã bi. lừa gạt khi sang đây, bị cô lập và đối xử tàn nhẫn và sau đó đột ngột bị đuổi trước khi làm hết việc để có thể trả nợ hết nợ.

"Họ dùng sức lao động của chúng tôi như một doanh nghiệp, và họ muốn bóc lột chúng tôi," ông Ngô nói.

Trong cuộc phỏng vấn, bốn người đàn ông kể lại họ được tuyển dụng như thế nào thông qua hệ thống xuất khẩu lao động của nhà nước Việt Nam và phải mượn nợ lớn để nộp lệ phí. Đó là một hệ thống mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã kết luận trong một báo cáo năm 2010 là thường làm công nhân "dễ bị mang nợ và bị cưỡng bức làm viêc."

Cả bốn công ty liên can trong vụ này đều chối là họ không làm gì sai trái. Quan chức của Tổng công ty xuất khẩu lao động Việt Nam buộc tội những người thợ hàn là nói láo và phủ nhận việc những công nhân đó đã bị lừa dối hoặc bị bóc lột. Các luật sư của hai công ty Mỹ, những người đã đồng ý giải quyết (đóng phạt) cũng không đồng ý với những thợ hàn là họ đã bịtrả lương thấp hoặc bị lưu giữ không cho rời khỏi chỗ ở.

Nhưng Tony Buzbee, luật sư cho những người thợ hàn, cho biết thân chủ của ông đã bị buộc vào một hình thức nô lệ có giao kèo. Không những họ phải trả hàng ngàn đô la chi phí cho các công ty Việt Nam, nhưng họ đã bị tính giá cao khi thuê nhà cử xập xệ, di chuyển đến xưởng ở Mỹ và chi phí khác.

Các công nhân nói rằng các công ty Mỹ phụ trách di chuyển và nhà ở của họ - ILP Agency LLC - cũng đã giữ hộ chiếu của họ và cô lập họ, và nói với họ rằng cảnh sát sẽ bắt giữ và trục xuất họ nếu họ rời nhà nơi họ sống.

Các người thợ hàn cho biết họ đã trả tiền lệ phí cho các đại diện doanh nghiệp trực thuộc Chính phủ, Việt Nam - Interserco và Vinamotors – khoảng 6.500 đến 15.000 đô-la. Đổi lại, họ nói rằng họ đã được có viêc. Làm ổn định hai năm rưỡi tại Hoa Kỳ, với lương 15 USD/một giờ.

Đa số đã thế chấp nhà cửa và vay mượn từ người thân và bạn bè để thanh toán lệ phí (cho đại diện các công ty của chính phủ VN) vào đầu năm 2009. Một số vay từ các công ty xuất khẩu lao động tự, giao bằng khoán ngôi nhà của họ cho các công ty này.

Nhưng Coast to Coast Resources Inc, công ty ở Texas đưa họ đến Houston và đưa họ đi làm thuê cho một nhà máy đóng tàu, đã cho họ nghỉ việc vào tháng Hai năm 2009, chỉ sau tám tháng làm việc, bởi vì giấy phép làm việc của họ đã hết hạn và Cục Lao động Hoa Kỳ sẽ không gia hạn cho họ, tài liệu tòa án cho thấy.

Những công nhân này còn nợ hàng ngàn đô la mà họ không thể trả nổi theo mức lương thấp ở Việt Nam. Hầu hết đã từ chối không nhận để chủ hãng ILP Agency mua vé máy bay để họ về lại VN. Một vài người khác tìm sự giúp đỡ của tổ chức Nhân chứng của Giê-hô-vai đã đến cửa và để lại danh thiếp.


Ls Tammy Tran giúp thợ hàn kiện hai công ty Mỹ 
Nguồn Ảnh: Michael Stravato for The New York Times

Tammy Trần, một luật sư người Mỹ gốc Việt nổi tiếng ở Houston, đã đến giúp đỡ họ, khởi kiện các công ty Mỹ thay mặt cho họ và cho rằng hợp đồng của họ đã bị vi phạm. Cô cũng tập hợp các nhà thờ và dân Việt Nam ở địa phương để giúp những công nhân này có quần áo, nhà ở và thức ăn.

Vào tháng Hai, hai công ty Coast to Coast Resources và ILP Agency thoả thuận giải quyết, ngoài tòa án, với những người thợ hàn, và đồng ý bồi thường tổng cộng khoảng 60 triệu đô-la tiền thiệt hại.

Tuy thế, vụ thắng kiện đó cũng như không vì theo các điều khoản của thỏa thuận, các chủ nhân của các công ty không chịu trách nhiệm và các công ty đó không có tài sản, các luật sư tham gia đàm phán cho biết. Những người thợ hàn vẫn chưa nhận được một xu nào.

Trong khi đó, những công nhân cho biết vì vụ kiện, họ đã nhận được đe dọa từ những người dính dáng đến các công ty lao động ở Việt Nam. Họ nói rằng họ lo sợ cho mạng sống của họ nếu họ trở về.

Khi các công nhân đến Houston vào tháng Năm và tháng Sáu năm 2008, họ được đưa đến căn hộ bẩn thỉu, không có đồ đạc ở Pasadena, bang Texas. Mỗi bốn người đàn ông được yêu cầu sống chung trong căn hộ hai phòng ngủ, và trả 500 đô-la một người là khi tiền thuê bình thường của căn hộ đó chỉ bằng một phần tư, ông Ngô nói.

"Đó là một căn hộ rất bẩn, không có giường, bàn ghế, tủ, mùi hôi hám, gián chạy khắp nơi," ông nhớ lại. "Thảm sàn dơ bẩn và máy điều hòa không khí không chạy."

Coast to Coast Resources cũng tính phí mỗi người 85 đô-la một tuần để một xe van đưa họ đi làm việc và mua sắm hàng tạp hóa. Mỗi người cũng đã phải trả thêm 280 đô-la cho dụng cụ hàn.

Scott Funk, một luật sư đại diện cho Coast to Coast trong vụ kiện, cho biết một thẩm phán tòa án huyện đã không thấy những công nhân này đã bị lôi kéo hoặc bị bóc lột. Ngoài ra, ông lưu ý, chủ của công ty Coast to Coast Resources, Kenneth W. Yarbrough, cũng không bị xem là có trách nhiệm.

ông Ngô và ba thợ hàn khác nói rằng họ thường làm việc vào ban đêm trong thân tàu tại nhà máy đóng tàu Southwest Shipyard Inc, nhưng họ đã được Coast to Coast trả lương; tài liệu tòa án cho thấy Coast to Coast Resources đã ký hợp đồng với ILP Agency để đem công nhân từ Việt Nam sang và để giám sát họ.

Các thợ hàn nhận rằng ngay cả với các khoản khấu trừ họ đã có thể kiếm được 300 đến 400 đô-la một tuần. Một số đã gởi tiền về Viê,t Nam qua một phụ nữ sống trong cùng chung cư.

"Đây là những công nhân hợp pháp sang đây với giấy nhập cảnh hợp pháp và đã đi làm kiếm được tiền, và họ đã thất vọng khi họ không thể tiếp tục kiếm được nhiều tiền," David J. Quan, một luật sư đại diện ILP Agency cho hay.

Ông Quan cho biết các hợp đồng hứa chỉ có 10 tháng làm việc, và có thể gia hạn thêm tuỳ thuộc vào giấy phép nhập cảnh. Ông nói thêm rằng các chỗ tương đối khắc khổ nhưng đầy đủ, và rằng các công nhân đã được một mức lương công bằng.

Tuy nhiên, những người thợ hàn xác định rằng họ bị hạn chế ở khu chung cư và nơi làm việc vì những lời cảnh báo trục xuất của chủ công ty ILP Agency, Hung Quoc Vu. "Đời sống này giống như bị giam giữ trong tù," Nha Trang, 29 tuổi, cho biết.

Han Thanh Phan, 30 tuổi, một người thợ hàn đã phải xa con gái sơ sinh và vợ ở VN, cho biết vì nợ nần với người thân đã giữ không cho ông tìm đường trốn. "Tôi cảm thấy đã thất bại vì số tiền tôi đã làm được quá ít," ông nói. "Tôi nợ gia đình tôi. Tôi đã không làm được cho họ những gì tôi đã hứa."

© DCVOnline

10 cô gái Việt đẻ thuê ở Thái Lan về nước

Viết bởi nguoiviet
Thứ hai, 16 Tháng 5 2011 00:00
BANGKOK (VNE) - Mười trong số 14 cô gái bị khám phá sang Thái Lan "đẻ thuê" cho những người giầu có nhưng hiếm muộn đã được đưa về nước mà một số cô về với bụng bầu.
14 cô gái Việt Nam sang Thái Lan đẻ thuê đang được viên chức Sở Di Trú nước này thẩm vấn hôm 24 tháng 2. Có 7 cô trong số 14 người đã có bầu vào lúc thẩm vấn. Nay 10 cô đã bị đưa về Việt Nam. (Hình: AFP/AFP/Getty Images)
Bản tin báo điện tử VNExpress hôm Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011 nói sau gần 3 tháng được đưa vào tạm trú tại trung tâm bảo vệ và dạy nghề Kredtrakarn ở tỉnh Nonthaburi (Thái Lan), 10 cô đã được đưa về nước, theo lời một viên chức của sứ quán Việt Nam tại Thái Lan.
Viên chức chống buôn người của Thái Lan đã hộ tống các cô gái trên về Việt Nam bằng máy bay.
Trong số các cô vừa kể trở lại quê nhà mới đây, có 3 cô đang mang thai từ 5 tới 6 tháng. Một số cô còn ở lại Thái Lan vì vừa sinh nở.
Ngày 23 tháng 2, cảnh sát Thái đã bắt giữ 14 cô gái Việt Nam tại một căn nhà ở khu vực sang trọng ngoại ô thủ đô Bangkok, trong đó, 7 cô đang mang bầu. Cuộc điều tra cho thấy họ đã được một công ty từ Ðài Loan thuê sang Thái Lan làm dịch vụ "đẻ thuê" cho những người giầu có nhưng hiếm muộn ở nhiều nơi từ Ðài Loan, Trung Quốc đến cả Miến Ðiện.
Có 8 trong số 14 cô (tuổi từ 19 đến 26 tuổi) quê quán ở Bạc Liêu. Tất cả đều thuộc các gia đình nghèo khó, không đủ ăn. Những tin tức sơ khởi trong cuộc điều tra nói rằng trung bình, các cô được trả công $5,000 USD nếu đẻ ra được một đứa con bình thường, xinh xắn. Họ được trả trước $1,000 USD sau khi đã có bầu được khoảng ba bốn tháng, phần còn lại sẽ được trả sau khi đã sinh nở "đạt yêu cầu."
Nhưng cũng có tin nói rằng các cô gái này được cấy phôi thai hay tinh trùng của những người nổi tiếng rồi sau đó, con họ đẻ ra được đem bán. Ðây là một dịch vụ kinh doanh trẻ em sơ sinh bất hợp pháp, một hình thức buôn người.
Theo bản tin của VNExpress bốn cô còn lại bên Thái sẽ về nước vào cuối tháng này cùng với con của họ sinh ra. Những người nào là cha mẹ thật sự của các đứa trẻ "muốn nhận con thì sang Việt Nam làm thủ tục xin con theo quy định của pháp luật hiện hành."

Ngóng chờ con gái đẻ thuê ở Thái Lan trở về


Trong khi các cô gái đẻ thuê làm việc với cơ quan chức năng ở Hà Nội thì ở quê nhà, cha mẹ ngày ngày ngóng chờ con trước ngõ. Dù nghèo nhưng họ quyết chăm lo cho những đứa trẻ không cha. 
Hơn một nửa cô gái đẻ thuê ở Thái Lan được về nước /Phận nghèo của những cô gái đẻ thuê ở Thái Lan

Tại vùng muối Bạc Liêu, 3 ngày kể từ khi nhận điện thoại của con gái từ Thái Lan, ông Bảy cha của cô Vàng ở xã Long Điền (Đông Hải, Bạc Liêu) không đêm nào ngủ được. 3 tháng nay khi hay tin cô con gái 22 tuổi sang Thái Lan "đẻ mướn", ông suy sụp và lo lắng. Người đàn ông mới hơn 50 tuổi giờ như như cụ già 70.

Làng quê nghèo của một cô gái đẻ thuê. Ảnh: Thiên Phước
Làng quê nghèo của một cô gái đẻ thuê. Ảnh: Thiên Phước.

Nhìn ra ruộng muối chỉ rộng khoảng 7 công đất (7.000m2), ông Bảy bảo rằng từ Tết đến giờ, gia đình ông thu hoạch được chỉ gần 30 tấn muối đen (khoảng 900 giạ) vì ảnh hưởng nhiều trận mưa trái mùa làm không ít đợt muối sắp cào tan thành bọt nước. Do giá xăng tăng vùn vụt nên dù giá muối đen tăng từ 15.000 đồng lên 21.000 đồng mỗi giạ nhưng sau khi trừ chi phí thì cả vụ muối này gia đình ông Bảy chỉ lời vỏn vẹn 12 triệu đồng.

Ông Bảy nói trong tiếng thở dài: "Giá muối tăng chậm như thế này thì năm nay tính bình quân gia đình 6 miệng ăn của tôi chỉ có thu nhập khoảng một triệu đồng mỗi tháng. Vì nghèo mà tụi nhỏ phải đổ xô đi làm thuê làm mướn tứ tán, đẩy con Vàng vào cảnh đẻ thuê".

Trong 3 tháng qua, con gái ông Bảy điện thoại về nhà được 3 lần. Ông gặng hỏi có mang bầu hay không nhưng cô đánh trống lảng rồi vội cúp máy. Theo ông Bảy, dù có nghèo đến đâu đi nữa nhưng nếu con gái ông mang bầu về quê thì ông vẫn sẽ bảo bọc đứa bé. "Khi nó sinh ra, tôi sẽ đặt tên cháu là Long Điền quê mẹ và nhất quyết không cho ai bắt cháu ngoại của tôi mang đi đâu cả", ông Bảy nói.

Chiều 15/5, cơn mưa đầu mùa sau một ngày hè nắng oi bức mang theo sấm chớp vang trời như rượt đuổi những ngư dân nghèo ven đê thuộc xã Vĩnh Trạch Đông.Hôm nay vẫn như mọi ngày, nghề bắt ốc, mò cua cật lực của vợ chồng ông Huê cùng đứa con gái út chỉ thu về được khoảng 20.000 đồng. Cái nghèo đeo đuổi trong khi mọi thứ bán ngoài chợ đều tăng cao nên gia đình ông quanh năm không biết đến miếng thịt heo, chỉ mong có cơm trắng, cá biển kho quẹt với ít rau rừng là cả nhà thấy vui rồi. Có hôm ông Huê bắt được con cua biển to hơn cái chén, cô con gái út thèm ăn nhưng phải nhịn vì con cua bán được trên 20.000 đồng mua gạo ăn được hai ngày.

Cha mẹ của một cô gái đẻ thuê ở Bạc Liêu đang ngóng chờ con gái. Người đàn ông trụ cột trong gia đình này nói rằng sẽ quyết tâm nuôi cô con gái út này ăn học đàng hoàng hơn chị để giúp gia đình thoát khỏi cảnh nghèo khó. Ảnh: Thiên Phước
Cha mẹ Phúc ở Bạc Liêu đang ngóng chờ con gái. Người đàn ông trụ cột trong gia đình này nói rằng sẽ quyết tâm nuôi cô con gái út này ăn học đàng hoàng hơn chị để giúp gia đình thoát khỏi cảnh nghèo khó. Ảnh: Thiên Phước.

Niềm vui lớn nhất trong buổi chiều tàn đối với gia đình ông Huê là hay tin con gái ông về đến Việt Nam sau gần 3 tháng được nhà chức trách bên Thái Lan giải thoát từ một đường dây đẻ thuê. Vợ chồng ông Huê mừng rơi nước mắt dù biết Phúc vẫn còn ở ngoài Hà Nội, chưa được về sum họp gia đình. "Vậy là thoát rồi, về được Việt Nam rồi. Cầu trời cho con gái mau về sớm, mẹ nhớ con quá Phúc ơi", vợ ông Huê lẩm nhẩm nói.

Theo bà Nguyễn Thị Hà - Phó Giám đốc Trung tâm Trợ giúp phụ nữ và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn khu vực Cần Thơ, 10 cô gái về lần này đã được nhà chức trách Thái Lan xác định chỉ là nạn nhân trong đường dây đẻ thuê nên không bị kết tội. Hiện họ được đưa ra Hà Nội để làm việc với Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (C45) Bộ Công an về một số vấn đề có liên quan. Trong số đó có 4 cô sinh ra 5 trẻ được khoảng 2-3 tháng tuổi (một cô sinh đôi).

Bà Hà cũng cho biết khi họ về đến Cần Thơ, đơn vị bà sẽ nhận nuôi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp nếu các cô muốn ở lại, còn muốn về quê thì được đưa đến tận nhà.

Trao đổi với VnExpresss.net về 5 cô gái còn lại ở Thái Lan, ông Phạm Minh Tuấn - Bí thư thứ nhất phụ trách vấn đề về công dân của Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan - cho biết các cô vừa sinh em bé được một thời gian ngắn, sức khỏe rất tốt, đang ở trong trại tạm cư bên ngoài Bangkok. Các bé sinh ra gồm 4 trai, 1 gái sẽ được cùng "mẹ" bay về Việt Nam vào cuối tháng này.

Thiên Phước

Dân chặn xe công trình vì thác bùn tràn vào nhà


Hai ngày nay, người dân trên đường Tô Hiệu (Đà Lạt) gần dự án xây dựng Bệnh viện nhi Lâm Đồng đã đóng cọc chắn ngang cổng công trình, không cho xe chở vật tư vào vì tình trạng bùn tràn thẳng vào nhà mỗi khi mưa lớn. 
Thác bùn đất tràn vào nhà dân

Từ giữa tháng 4 khi Đà Lạt xuất hiện những cơn mưa đầu mùa, đã xảy ra tình trạng bùn tràn vào nhà dân và phủ lấp hoa màu tại cụm dân cư đường Tô Hiệu, nằm dưới khu đồi rộng 4 ha đang xây dựng Bệnh viện Nhi tỉnh Lâm Đồng.

Cơ quan chức năng lập biên bản, yêu cầu đơn vị thi công là Công ty Thành An có phương án khắc phục trong thời gian sớm nhất để không ảnh hưởng người dân. UBND thành phố Đà Lạt ra quyết định xử phạt Thành An 5 triệu đồng vì để bùn đất làm tịt cống, tràn lên đường. Song, tình trạng thác bùn vẫn diễn ra khiến người dân bức xúc chặn xe vật tư.

Sáng nay, đoàn kiểm tra liên ngành của thành phố Đà Lạt đã đến hiện trường, gặp gỡ người dân và chủ đầu tư là Ban giám đốc Bệnh viện nhi Lâm Đồng.

Người dân mang hình ảnh thác bùn đến trình bày với thành viên đoàn kiểm tra liên ngành. Ảnh: Quốc Dũng
Người dân mang hình ảnh thác bùn đến trình bày với thành viên đoàn kiểm tra liên ngành. Ảnh: Quốc Dũng

Ông Nguyễn Văn Ngọc, Đội phó Đội thanh tra giao thông đô thị và vệ sinh môi trường Đà Lạt cho rằng, việc người dân chặn xe không cho chở vật tư vào công trình là không đúng với quy định pháp luật. Tuy nhiên bức xúc của người dân là có lý, vì đơn vị thi công và chủ đầu tư công trình thiếu tôn trọng, phó mặc cho tình trạng bùn đất tràn vào nhà dân và phủ lấp rau màu mỗi khi có mưa lớn.

Theo ông Ngọc, Thành An đã không chấp hành quyết định xử phạt hành chính và yêu cầu khắc phục hệ thống thoát nước của UBND thành phố Đà Lạt, mà đùn đẩy cho Công ty Sông Đà Thăng Long. Thành An cho rằng mình chỉ thực hiện hạng mục san lấp mặt bằng và xây dựng bờ kè; còn Sông Đà Thăng Long mới là đơn vị thi công xây bệnh viện Nhi.

Bác sĩ Lê Thọ, giám đốc bệnh viện Nhi, đại diện chủ đầu tư cho biết, hệ thống thoát nước hoàn chỉnh nằm trong gói dự án 10 tỷ đồng và sẽ được tiến hành sau khi xây xong bệnh viện. "Người dân sống dưới chân đồi bệnh viện không nên quá lo lắng vì hệ thống thoát nước này sẽ đảm bảo vừa để thoát nước sinh hoạt, tiêu nước mưa và cả nước thải bệnh viện", ông Thọ trấn an.

Đại diện chủ đầu tư đề xuất phương án xây hệ thống thoát nước tạm thời, song chưa đưa ra được thời gian thực hiện cụ thể. Bệnh viện Nhi cũng sẽ có khảo sát thực tế để hỗ trợ thiệt hại của người dân.

Trước mắt, Đoàn công tác liên ngành tiếp tục đề xuất xử phạt hành chính và tạm đình chỉ thi công công trình bệnh viện Nhi, cho đến khi chủ đầu tư công trình và các đơn vị thi công hoàn thành hệ thống thoát nước tạm.

Quốc Dũng

Lương công nhân khu CN không đủ sống


16/05/2011 09:24:16

Thu nhập bình quân của công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đạt khoảng 2 triệu đồng/tháng,

Đời sống vật chất của gần 1,6 triệu công nhân, lao động  trong 260 khu công nghiệp, 15 khu kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, đồng lương eo hẹp không đủ chi trả cho những chi tiêu tối thiểu.

Đó là thông tin được đưa ra tại báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa công bố tại hội thảo về vấn đề lao động và điều kiện sống, làm việc của công nhân trong khu công nghiệp, khu kinh tế.

 Hơn 4000 công nhân cty TNHH Pioneer đình công đòi tăng lương (IE)

Theo báo cáo này, mức thu nhập của công nhân lao động tại các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đạt bình quân 2 triệu đồng/tháng, bao gồm cả các khoản phụ cấp như tiền xăng xe, chuyên cần, nhà trọ, làm thêm giờ...

Trong khi đó, với mức độ lạm phát, giá cả hàng hóa dịch vụ tăng nhanh, nhất là tại các khu đô thị tập trung đông người, cuộc sống của công nhân lao động không những không được cải thiện mà đang có chiều hướng giảm xuống. Tiết kiệm chi phí trong bối cảnh lạm phát tăng cao dẫn đến việc họ phải chấp nhận những điều kiện sống thấp kém hơn. Đặc biệt là vấn đề dinh dưỡng và nhà ở.

Ông Đặng Quang Điều, Viện trưởng Viện công nhân – công đoàn ( thuộc Tổng liên đoàn lao động Việt Nam) phân tích, phần lớn công nhân tại các khu công nghiệp là lao động nhập cư. Với nhóm đối tượng này, cơ cấu chi tiêu của họ đã phải dành một khoản chi phí khá lớn cho nhà trọ, lưu trú.

Chị Lý Thị Huệ, công nhân làm việc tại Công ty Yamaha Việt Nam, đóng tại Khu công nghiệp Thăng Long cho biết, tổng thu nhập của chị là 3 triệu đồng/tháng không đủ trang trải cho tiền ăn và tiền thuê nhà.

Giá cả tăng cao khiến cho việc chi tiêu của chị Huệ và những công nhân ở đây vô cùng khó khăn. Ngoài việc chi trả mua lương thực, thực phẩm và các hàng hóa trong điều kiện tăng giá như mọi người dân bình thường khác ở đô thị, chị Huệ và những lao động nhập cư còn phải chi phí thêm các khoản như thuê nhà đã tăng khoảng 20 đến 30%, trả tiền điện, nước với giá cao hơn 2 đến 4 lần so với người dân địa phương.

Còn chị Nguyễn Thị Thủy làm tại dây chuyên sản xuất linh kiện điện tử, dây cáp của Công ty Nissei của Nhật Bản thì cho rằng, nếu như trước đây, doanh nghiệp nào phải bố trí công nhân làm thêm giờ sẽ rất khó thu hút lao động vì công nhân sợ vất vả, không đủ sức làm thêm thì hiện đang có xu hướng ngược lại. Công nhân sẽ sẵn sàng "nhảy việc" sang các doanh nghiệp có việc làm thêm để tăng thêm thu nhập nếu doanh nghiệp họ đang làm không có việc làm ngoài giờ.

"Với công nhân khu công nghiệp, có lẽ cách duy nhất để "chống chọi" với "bão giá"hiện nay là làm thêm giờ", chị Thủy nói.

Thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy, hiện có tới 48,2% lao động có mức thu nhập thấp nên phần lớn phải làm thêm giờ hoặc chấp nhận sống thiếu thốn. Tuy nhiên, 30,7% số công nhân cho rằng tiền công, phụ cấp doanh nghiệp trả cho họ chưa được thỏa đáng so với công sức bỏ ra. Số tiền công mà họ nhận được đang không đủ để trang trải cho những chi tiêu tối thiểu

Vũ Quỳnh (theo VnEconomy)