Thứ Ba, 29 tháng 3, 2011

Tình trạng blogger Điếu Cày và Anh Ba Sài Gòn hiện nay


2011-03-29

Dư luận quan tâm đến tình trạng hai blogger nổi tiếng là Điếu Cày và Anh Ba Sài Gòn vẫn theo dõi ngày hai nhân vật này ra tòa xét xử.

Photo courtesy of worldpress

Từ trái qua: chị Dương Thị Tân, blogger Điều Cày, nhà dân chủ Nguyễn Tiến Trung

Thi hành án xong vẫn bị giam 

Tuy nhiên đến nay đã gần 5 tháng trôi qua, cơ quan an ninh điều tra vẫn tuyên bố chưa hoàn tất hồ sơ để chuyển giao cho viện kiểm sát, và do đó luật sư bào chữa cho hai ông vẫn chưa được chấp thuận.

Nhắc đến blogger Điếu Cày tức nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải thì giới blogger Việt Nam hình như không ai lại không biết về trường hợp của ông. Ông bị bắt và kêu án 30 tháng tù về tội trốn thuế, và ngay lập tức dư luận cho đây là một bản án áp đặt khi cốt lõi vần đề nằm ở chỗ ông bị bắt và kết án bởi kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc chiếm giữ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong khi Bắc Kinh tổ chức Olympic 2008.

Sau khi thụ án đầy đủ ba mươi tháng trong trại giam, ông Nguyễn Văn Hải vẫn không được trả tự do mà tiếp tục bị giam giữ với một tội danh khác. Lần này nặng nề hơn ông bị cáo buộc tội tuyên truyền chống phá nhà nước Việt Nam theo điều 88. 

Với cách hành xử được giới luật gia trong nước cho là thiếu căn cứ pháp luật như vậy, cơ quan an ninh vẫn được phép tiếp tục giam giữ ông để gọi là điều tra và không cho phép gia đình liên hệ với ông trong thời gian mà pháp luật quy định. 

Không cho gặp thân nhân 

worldpress.-200.jpg
Điếu Cày biểu tình chống Trung Quốc lần thứ 2 (tháng 12/2007) tại Sài Gòn. Photo courtesy of worldpress
Bà Dương thị Tân, vợ của blogger Điếu Cày cho biết: "Họ không cho biết ở đâu và không cho nhận bất cứ quà gì gửi vào. Cũng đưa đơn vào nhưng họ từ chối họ nói đang trong giai đoạn diều tra nhưng khi hết giai đoạn điều tra tôi khi tôi tới thì họ cũng không trả lời. Một tuần tôi đến một lần tôi đề nghị phải giải quyết vấn đề trả lời những câu hỏi cho tôi nhưng mà họ vẫn né tránh.

Hôm vừa rồi họ có cho một người ra trả lời tôi theo cái kiểu không biết gì. Tôi định viết mấy chữ để yêu cầu những người biết việc này phải ra mặt giải quyết yêu cầu cho tôi chứ không phải là người không biết gì."

Blogger Điếu Cày không phải là trường hợp ngoại lệ, một bogger khác là ông Phan Thanh Hải chủ trang blog Anhbasg bị bắt ngày 18 tháng 10 năm 2010 cũng trong tình trạng tương tự. Ông Hải bị cáo buộc tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước vì lưu trữ và phát tán tài liệu đòi tự do dân chủ cho Việt Nam.

Sau gần 5 tháng bị giam giữ, gia đình blogger Anhbasg vẫn không được thăm nuôi giống như gia đình của blogger Điếu Cày. Bà Nguyễn Thị Liên, vợ của ông Phan Thanh Hải cho biết về trường hợp của bà như sau:

"Sáng nay tôi có được thư mời lên trả lời về những thư tôi đề nghị cho thăm gặp. Sáng nay tôi lên thì họ không cho gặp, hơn năm tháng rồi tôi chưa được gặp mặt anh ấy. Sáng nay tôi cũng có nói thứ nhất là con tôi đã được hơn ba tháng rồi nên tôi muốn ba con nó gặp nhau thì họ bảo rằng đang trong điều tra.

Tôi nghĩ rằng gặp thì anh ấy thì có ảnh hưởng gì đâu? Chỉ cần nhìn xa thôi cũng được. Họ bảo họ chỉ trả lời hai yêu cầu của tôi là không được và chỉ thông báo cho biết hiện giờ anh Hải vẫn đang khỏe. Tôi trả lời là khỏe thì cũng chỉ các anh nói thôi chứ 5 tháng hơn rồi tôi chưa nhìn thấy chồng nên không biết khỏe hay không. Hơn nữa tôi thấy công an đánh chết người nên tôi muốn nhìn thấy tận mắt chứ tôi không muốn chỉ nghe các anh nói."

Hơn năm tháng rồi tôi chưa được gặp mặt anh ấy. Con tôi đã được hơn ba tháng rồi nên tôi muốn ba con nó gặp nhau thì họ bảo rằng đang trong điều tra.

Bà Nguyễn Thị Liên

Với cách giam giữ người vượt thời gian quy định nhưng không bị một cơ quan tư pháp nào chế tài đã làm hình ảnh nhà giam Việt Nam ngày một tối tăm hơn. Cơ quan an ninh điều tra có một thứ vũ khí tuyệt đối để chống lại tất cả các văn bản pháp luật khác khi nắm được cái quyền tối thượng là giam giữ và điều tra người bị bắt với một tội danh mơ hồ là "tuyên truyền chống phá nhà nước". 

Quy định của Hiến pháp không vượt qua nổi điều mà cơ quan điều tra cho là an ninh quốc gia, mặc dù xét cho cùng thì hai blogger Điếu Cày và Anhbasg không thể nào có đủ khả năng để thực hiện điều trọng đại này.

Không có văn bản rõ ràng

vuhuyduc-basg-200.jpg
Anh Ba Sài Gòn. Photo courtesy of worldpress
LS Nguyễn Quốc Đạt, người nhận biện hộ cho nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày cho biết cơ quan điều tra từ chối đơn biện hộ của ông như thế nào, ông nói: "Bước đầu trong giai đoạn điều tra thì tôi cũng có làm thủ tục để được xem xét. Tuy tôi đã làm đầy đủ các thủ tục nhưng cơ quan an ninh đã từ chối, người ta nói thẳng với tôi là chưa thể chấp nhận vì lý do an ninh và văn bản này tôi đã giao lại cho gia đình chị Tân".

LS Trần Kim Cang, người được gia đình ông Phan Thanh Hải mời biện hộ cũng có cùng tình trạng như Luật Sư Nguyễn Quốc Đạt, Luật sư Cang cho biết: "Thì họ trả lời cứ đợi hồ sơ chuyển qua kiểm sát rồi mới làm thủ tục được. Luật Việt Nam quy định những vụ an ninh điều tra thì luật sư chỉ đựơc quyền tham dự khi mà có kết luận điều tra thôi." 

Khi được hỏi với hành động nào thì một can phạm sẽ bị điều tra dưới tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước, luật sư Nguyễn Quốc Đạt nói:

"Về luật thì quy định nó còn chung chung lắm, nó không được rõ ràng nhiều cái án liên quan đến những tội trong chương về an ninh quốc gia thì người ta thường hay lấy lý do an ninh và người ta từ chối. Nói chung chung vậy thôi chứ chưa có văn bản hoặc bất cứ một quy định rõ ràng.

Tuy tôi đã làm đầy đủ các thủ tục nhưng cơ quan an ninh đã từ chối, người ta nói thẳng với tôi là chưa thể chấp nhận vì lý do an ninh...

LS Nguyễn Quốc Đạt

Sau khi bị từ chối vì cái giai đoạn bốn tháng nó đã vượt quá thì tôi và chị Tân cũng đã liên hệ với cơ quan an ninh yêu cầu cho tiếp xúc thì người ta vẫn chưa cho. Tuy nhiên về đồ đạc và đồ ăn thức uống thì người ta đã tiếp nhận."

Dư luận thế giới cho rằng việc giam giữ một người có các bài viết chống Trung Quốc hay cổ vũ cho dân chủ và cáo buộc họ tuyên truyền chống phá nhà nước đang ngày một phổ biến hơn tại Việt Nam. Điều này không những gây lo ngại sâu xa cho những tổ chức Bảo vệ Nhân quyền mà nó còn phản ánh lại tình trạng tư pháp lỏng lẻo hiện nay đang bị lợi dụng triệt để bởi một nhóm thế lực muốn dung túng tình trạng này để dằn mặt và ngăn cản tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

Theo dòng thời sự:


# Bàn Mô.t Chút Vê` Vu. Án TS Cù Huy Hà Vu~ (2,2)

(*2) Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự Và Chính Trị (Việt)

http://www.vietnamhumanrights.net/viet/vintbill/dansuchinhtri.htm

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ
VỀ NHỮNG QUYỀN DÂN DỰ VÀ CHÍNH TRỊ (1966)

Lời Mở Đầu

Các Quốc Gia Hội Viên ký kết Công Ước này:

Xét rằng, chiếu theo những nguyên tắc công bố trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng và bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền móng của tự do, công lý và hoà bình thế giới.

Nhìn nhận rằng những quyền này xuất phát từ phẩm giá bẩm sinh của con người.

Nhìn nhận rằng, chiếu theo Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, lý tưởng về một con người tự do được hành xử những quyền dân sự và chính trị cũng như được giải phóng khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, chỉ có thể đạt được nếu hội đủ những điều kiện thuận tiện để con người được hưởng những quyền dân sự và chính trị cũng như những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá.

Xét rằng nghiã vụ của các quốc gia hội viên theo Hiến Chương Liên Hiệp Quốc là phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do của con người.

Nhận định rằng con người có nghiã vụ đối với những người khác cũng như đối với cộng đồng, nên có trách nhiệm phải phát huy và tôn trọng những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này.

Đồng chấp thuận những điều khoản sau đây:

PHẦN I

Điều 1:

  1. Các dân tộc đều có quyền tự quyết. Chiếu theo quyền này, họ được tự do quyết định về chế độ chính trị và tự do theo đuổi đường hướng phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá.
  2. Để đạt được mục tiêu này, các dân tộc có quyền tự do sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên của mình, miễn là không vi phạm những nghiã vụ phát sinh từ sự hợp tác quốc tế về kinh tế, đặt căn bản trên quyền lợi hỗ tương và luật pháp quốc tế. Trong mọi trường hợp các phương tiện sinh sống của nghiệp đoàn không thể bị tước đoạt.
  3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này, kể cả những quốc gia có trách nhiệm bảo hộ hay giám hộ các lãnh thổ khác, phải tôn trọng và xúc tiến việc thực thi quyền dân tộc tự quyết chiếu theo các điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc.

PHẦN II

Điều 2:

  1. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền được nhìn nhận trong Công Ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
  2. Trong trường hợp những quyền được nhìn nhận trong Công Ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp quốc gia, các quốc gia hội viên ký kết Công Ước cam kết sẽ ban hành các đạo luật theo thủ tục luật pháp quốc gia và theo các điều khoản của Công Ước để các quyền này có hiệu lực.
  3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết:

    1. Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được đền bù hay đòi bồi thường thỏa đáng khi những quyền tự do của họ bị vi phạm, dầu rằng người vi phạm là một viên chức chính quyền.
    2. Bảo đảm cho các nạn nhân quyền được khiếu nại tại các cơ quan tư pháp, hành chánh hay lập pháp quốc gia, hay tại các cơ quan có thẩm quyền và phát triển quyền khiếu tố trước toà án.
    3. Bảo đảm các cơ quan thẩm quyền phải thi hành nghiêm chỉnh những sự đền bù hay bồi thường đã tuyên

Điều 3: Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trong việc hành xử những quyền dân sự và chính trị ghi trong Công Ước.

Điều 4:

  1. Trong khi tuyên bố tình trạng khẩn trương công cộng vì lý do quốc gia bị đe doạ, Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này có thể ban hành một số biện pháp đình chỉ thi hành các nghiã vụ của quốc gia ấn định trong Công Ước này. Tuy nhiên những biện pháp này phải có tính cách thật cần thiết vì nhu cầu của tình thế, và không vi phạm các nghiã vụ của quốc gia phát sinh từ luật pháp quốc tế, và cũng không được dùng để kỳ thị chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo hay nguồn gốc xã hội.
  2. Trong mọi trường hợp những quyền dân sự và chính trị ghi trong các điều 6, 7, 8 (khoản 1 và 2), và trong các điều 11, 15, 16, 18 của Công Ước không thể bị đình chỉ thi hành.
  3. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải lập tức thông báo qua vị Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc cho các quốc gia hội viên kết ước khác hay biết những điều khoản nào trong Công Ước đã bị đình chỉ thi hành, và vì lý do gì. Ngay sau khi chấm dứt tình trạng khẩn trương công cộng, họ cũng phải thông báo theo thủ tục nói trên.

Điều 5:

  1. Không một quốc gia, một phe nhóm hay một cá nhân nào có quyền giải thích các điều khoản trong Công Ước này để cho phép họ hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu diệt những quyền tự do đã được Công Ước thừa nhận, hoặc để giới hạn những quyền tự do này quá mức ấn định trong Công Ước.
  2. Các quốc gia hội viên kết ước nào đã thừa nhận một số nhân quyền căn bản trong luật pháp quốc gia, công ước, quy chế hay tục lệ, sẽ không được quyền giới hạn hay đình chỉ thi hành các nhân quyền căn bản đó, viện cớ rằng Công Ước này không thừa nhận những nhân quyền đó, hay chỉ thừa nhận trong một phạm vi hạn hẹp hơn.

PHẦN III

Điều 6:

  1. Mọi người đều có quyền sống. Đây là một quyền bẩm sinh được luật pháp bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt quyền sống một cách độc đoán.
  2. Trong các quốc gia chưa bãi bỏ hình phạt tử hình, toà án chỉ được tuyên án tử hình đối với những tội hình sự nghiêm trong nhất chiếu theo luật pháp áp dụng trong thời gian phạm pháp và không trái với những điều khoản của Công Ước này và của Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng. Hình phạt tử hình chỉ có thể được thi hành chiếu theo một bản án chung thẩm của một tòa án có thẩm quyền.
  3. Điều luật này không cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này được giải trừ các nghiã vụ ghi trong Công Ước Ngăn Ngừa và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng trong trường hợp sự hành quyết hay sát nhân cấu thành tội diệt chủng.
  4. Các bị cáo bị tuyên án tử hình có quyền xin ân xá hay ân giảm hình phạt. Lệnh đại xá, ân xá hay ân giảm hình phạt có thể được ban hành trong mọi trường hợp.
  5. Án tử hình không được tuyên đối với các bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi phạm pháp, và cũng không được thi hành đối với các phụ nữ mang thai.
  6. Điều luật này không thể được viện dẫn để trì hoãn hay ngăn cản việc bãi bỏ hình phạt tử hình tại các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này.

Điều 7: Không ai có thể bị tra tấn, hoặc phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người. Đặc biệt là, nếu không có sự ưng thuận tự do của đương sự, không ai có thể bị dùng vào những cuộc thí nghiệm y học hay khoa học.

Điều 8:

  1. Không ai có thể bị bắt làm nô lệ; chế độ nô lệ và mọi hình thức buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.
  2. Không ai có thể bị bắt làm nô dịch.

    1. Không ai có thể bị cưỡng bách lao động.
    2. Khoản 3 (a) nói trên không được áp dụng tại các quốc gia trong đó luật pháp cho phép toà án có thẩm quyền tuyên án tù khổ sai.
    3. Trong phạm vi khoản này, không được coi là "lao động cưỡng bách":

      1. Ngoài trường hợp nêu ở khoản (b) trên đây, những công tác hay dịch vụ mà các tù nhân phải làm trong thời gian bị giam giữ chiếu theo một bản án hợp pháp của toà án, hay phải làm trong thời gian được phóng thích có điều kiện.
      2. Nghiã vụ quân sự, hay nghiã vụ quốc gia áp dụng cho những người được luật pháp cho miễn thi hành nghiã vụ quân sự vì lý do lương tâm.
      3. Nghiã vụ cộng đồng trong trường hợp khẩn trương hay thiên tai đe doạ đời sống hay sự an lạc của cộng đồng.
      4. Những nghiã vụ dân sự thông thường.

Điều 9:

  1. Ai cũng có quyền tự do thân thể và an ninh thân thể. Không ai có thể bị bắt giữ hay giam cầm độc đoán. Không ai có thể bị tước đoạt tự do thân thể ngoại trừ những trường hợp và theo những thủ tục luật định.
  2. Khi bị bắt giữ, bị cáo phải được tức thì thông báo về lý do bắt giữ, và phải được thông báo không chậm trễ về tội trạng bị cáo buộc.
  3. Bị cáo bị bắt giữ hay giam cầm về một tội hình sự phải được dẫn giải không chậm trễ tới một vị thẩm phán (hay một viên chức có thẩm quyền tư pháp theo luật), để được xét xử trong một thời hạn hợp lý hay được phóng thích. Theo thông lệ, không nhất thiết phải câu lưu bị cáo trước ngày toà xử. Tuy nhiên để bảo đảm sự hiện diện của bị cáo trong phiên xử hay trong các giai đoạn thẩm vấn, và để thi hành bản án, nếu cần, sự phóng thích tạm bị cáo đòi hỏi phải có bảo đảm.
  4. Những người bị bắt giữ hay giam cầm đều có quyền yêu cầu toà án thụ lý không chậm trễ về tính hợp pháp của sự giam giữ, và phải được phóng thích nếu sự giam giữ được xét là bất hợp pháp.
  5. Các nạn nhân trong những vụ bắt giữ hay giam cầm bất hợp pháp có quyền khiếu tố đòi bồi thường thiệt hại.

Điều 10:

  1. Những người mất tự do vẫn phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm.

    1. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, các bị cáo chưa được xét xử phải được giam giữ cách biệt với những người đã can án, và phải được đối xử theo quy chế của những người không can án.
    2. Các bị cáo thiếu nhi phải được giam giữ cách biệt với người lớn và phải được xét xử trong thời hạn sớm nhất.
    3. Chế độ lao tù phải đặt trọng tâm vào việc cải huấn tù nhân, tạo cho họ cơ hội cải hoá và hội nhập vào đời sống xã hội. Các thiếu nhi phạm pháp phải được giam giữ cách biệt với người lớn, và phải được đối xử tuỳ theo tuổi tác và tình trạng pháp lý của chúng.

Điều 11: Không ai có thể bị giam giữ chỉ vì không có khả năng thi hành một nghiã vụ khế ước.

Điều 12:

  1. Những người cư trú hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong lãnh thổ.
  2. Mọi người đều được quyền tự do rời khỏi một quốc gia, kể cả quốc gia của mình.
  3. Những quyền tự do ghi trên không thể bị giới hạn, ngoại trừ những trường hợp luật định vì nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác, và nếu không trái với những quyền tự do khác được thừa nhận trong Công Ước này.
  4. Không ai có thể bị tước đoạt quyền hồi hương một cách độc đoán.

Điều 13: Ngoại kiều cư trú hợp pháp trong lãnh thổ các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này chỉ có thể bị trục xuất do một quyết định hợp pháp. Trừ trường hợp có lý do cưỡng thúc về an ninh quốc gia, người bị trục xuất có quyền trình bày lý do để chống lại quyết định trục xuất, và có quyền nhờ người biện hộ nạp đơn xin tái xét hồ sơ trục xuất tại các cơ quan hay người đại diện cơ quan có thẩm quyền.

Điều 14:

  1. Mọi người đều bình đẳng trước toà án. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập, vô tư và có thẩm quyền theo luật, để phán xử về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc hay về những quyền lợi và nghiã vụ của mình trong các vụ tranh tụng khác. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì nhu cầu đạo lý, trật tự công cộng hay an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay, trong những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên các bản án hình sự và các bản án khác phải được tuyên đọc công khai trước toà, ngoại trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của thiếu nhi hay của gia đình trong những vụ tranh tụng về hôn nhân hay về việc giám hộ các con.
  2. Bị cáo về các tội hình sự có quyền được suy đoán là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật.
  3. Trong các vụ hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những bảo đảm tối thiểu sau đây:
    1. Được tức thì thông báo tội trạng với đầy đủ chi tiết bằng ngôn ngữ mà họ thông hiểu.
    2. Quyền có đủ thời gian và phương tiện để chuẩn bị sự biện hộ và được quyền liên lạc với luật sư do mình lựa chọn.
    3. Được xét xử mau chóng, không diên trì quá đáng.
    4. Được hiện diện trong phiên xử để tự biện hộ hay nhờ luật sư biện hộ do mình lựa chọn; được thông báo về quyền này trong trường hợp tự biện hộ; và được quyền có luật sư biện hộ miễn phí vì nhu cầu công lý nếu bị cáo không có phương tiện mướn luật sư.
    5. Được đối chất với các nhân chứng buộc tội và được quyền đòi nhân chứng và chất vấn các nhân chứng gỡ tội cho mình, theo cùng một thủ tục.
    6. Được quyền có thông dịch viên miễn phí, nếu bị cáo không nói hay không hiểu ngôn ngữ của toà.
    7. Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.
  1. Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của bị cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm.
  2. Các bị cáo bị tuyên phạt có quyền kháng cáo lên toà trên theo thủ tục luật định.
  3. Trong trường hợp bị cáo bị tuyên hình phạt chung thẩm và sau này bản án bị tiêu huỷ hay đương sự được ân xá vì có sự kiện mới phát giác cho biết bị cáo đã bị phạt oan uổng, người bị kết án có quyền đòi bồi thường thiệt hại theo luật, trừ phi có bằng chứng cho biết, sở dĩ sự kiện mới này không được phát giác trong thời gian xử án, một phần hay hoàn toàn tại vì bị cáo.
  4. Không ai có thể bị tái thẩm hay bị tuyên phạt một lần nữa về một tội trạng đã được toà án phán xử chung thẩm bằng cách tuyên phạt hay tha bổng, chiếu theo luật pháp và thủ tục hình sự hiện hành.

Điều 15:

  1. Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế áp dụng hồi đó; mà cũng không bị tuyên một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp. Tuy nhiên bị cáo được quyền hưởng hình phạt khoan hồng hơn chiếu theo luật mới ban hành sau ngày phạm pháp.
  2. Điều luật này không có tác dụng ngăn cản việc xét xử hay tuyên phạt một bị cáo vì đã làm hay không làm những hành vi cấu thành tội hình sự chiếu theo những nguyên tắc luật pháp tổng quát được thừa nhận bởi cộng đồng các quốc gia trong thời gian đương sự phạm pháp.

Điều 16: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.

Điều 17:

  1. Không ai có thể bị xâm phạm trái phép hay độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xúc phạm trái phép đến danh dự và thanh danh.
  2. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.

Điều 18:

  1. Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo. Quyền này bao gồm quyền tự do theo một tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự thờ phụng, hành đạo, nghi lễ hay giảng dạy, hoặc riêng tư hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.
  2. Không ai bị cưỡng bách tước đoạt quyền tự do lựa chọn tôn giáo hay tín ngưỡng.
  3. Quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn theo luật, vì nhu cầu bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý hay những quyền tự do căn bản của người khác.
  4. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này cam kết tôn trọng quyền của cha mẹ hay người giám hộ trong việc giáo dục các con về tôn giáo hay đạo lý theo tín ngưỡng của họ.

Điều 19:

  1. Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp.
  2. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia.
  3. Việc hành sử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu:
    1. Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác.
    2. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý.

Điều 20:

  1. Mọi hình thức tuyên truyền, cổ võ chiến tranh phải bị luật pháp cấm chỉ.
  2. Mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc hay các tôn giáo phải bị luật pháp cấm chỉ.

Điều 21: Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác.

Điều 22:

  1. Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.
  2. Việc hành xử quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi luật pháp, vì các nhu cầu cần thiết trong một xã hội dân chủ để bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn công cộng, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng, đạo lý, hay những quyền tự do của người khác. Điều luật này không có tác dụng ngăn cấm việc ban hành các giới hạn luật định liên quan đến sự hành xử quyền tự do lập hội của các giới quân nhân và cảnh sát.
  3. Điều luật này không có hiệu lực cho phép các quốc gia hội viên ký kết Công Ước Lao Động Quốc Tế năm 1948 về Quyền Tự Do Lập Hội và Bảo Vệ Quyền Lập Hội, được ban hành hay áp dụng những đạo luật có tác dụng vi phạm những bảo đảm về những quyền tự do ghi trong Công Ước Lao Động Quốc Tế.

Điều 23:

  1. Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản trong xã hội và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.
  2. Thanh niên nam nữ đến tuổi thành hôn có quyền kết hôn và lập gia đình.
  3. Hôn thú chỉ được thành lập nếu có sự ưng thuận hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
  4. Các quốc gia hội viên ký kết Công Ước này phải ban hành những biện pháp để bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm của vợ chồng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú, cũng như khi ly hôn. Trong trường hợp ly hôn phải quy định những biện pháp bảo vệ quyền lợi của các con.

Điều 24:

  1. Không phân biệt chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản hay dòng dõi, các trẻ em, với tư cách vị thành niên, phải được gia đình, xã hội và quốc gia bảo vệ.
  2. Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi sinh, và được đặt tên họ.
  3. Trẻ em có quyền thủ đắc quốc tịch.

Điều 25:

  1. Không bị kỳ thị (như đã quy định ở điều 2) và không bị giới hạn bất hợp lý, mọi công dân đều có quyền và có cơ hội:
    1. Được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn.
    2. Được bầu cử và ứng cử trong những cuộc tuyển cử tự do và công bằng theo định kỳ, bằng phổ thông đầu phiếu kín, bảo đảm trung thực ý nguyện của cử tri.
    3. Được quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.

Điều 26: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Trên phương diện này, luật pháp cấm mọi kỳ thị và bảo đảm cho tất cả mọi người quyền được bảo vệ một cách bình đẳng và hữu hiệu chống mọi kỳ thị về chủng tộc, mầu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào.

Điều 27: Đối với các cộng đồng thiểu số về chủng tộc, tôn giáo, hay ngôn ngữ tại các quốc gia hội viên, Công Ước này bảo đảm cho các thành phần thiểu số cũng với những người khác trong cộng đồng của họ được quyền hưởng văn hoá riêng, được truyền giáo và hành đạo riêng, và được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ.

(Với sự tu chính của Uỷ Ban Phối Hợp Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam)

Ghi chú: Từ Điều 28-53 thuộc về nhân sự và điều hành nên không cần dịch ra.

(http://www2.ohchr.org/english/law/ccpr.htm) (Tiếng Anh cho qúy vị tham khảo)

In a message dated 3/29/2011 2:16:31 A.M. Eastern Daylight Time, dantukhuong@yahoo.com writes:

Uy tín của nhà nước CS Việt Nam sẽ gia tăng với thế giới trong vụ xử CHHV sắp tới đây?

Nguyễn Khoa Thái Anh

Nguyễn Khoa Thái Anh phỏng vấn Luật sư Nguyễn Xuân Phước sau khi vụ án của Cù Huy Hà Vũ được Nhà nước Việt Nam hoãn lại 10 ngày.

http://www.boxitvn.net/bai/18652/image002-890

Luật sư Nguyễn Xuân Phước

Hỏi: Trước tiên xin phép được gọi Luật sư Phước bằng anh cho thân mật. Không phải gần chùa gọi bụt bằng anh đâu nhé, vì tôi ở tít tận Cali mà anh thi tận Texas, xa nhau đến hai múi giờ…! (cười).

Vừa rồi, nhiều người rất cảm kích chuyện anh đại diện cho gia đình CHHV đệ đơn khởi tố Nhà nước Việt Nam lên Liên Hiệp Quốc (LHQ) . Bài phỏng vấn của anh trên Người Việt và nhất là sau đó được thông tin trên BôxitViệtNam là một chuyện đáng ghi nhớ. Anh có nghĩ rằng tác dụng của nó (về việc đưa vụ án này ra công pháp quốc tế) có ảnh hưởng tích cực cho vụ xử Luật sư Cù Huy Hà Vũ không? Và nếu có thì anh nghĩ vì sao về vụ Nhà nước Việt Nam đình chỉ vụ này. Có phải họ đang nao núng, tìm cách đối phó với phản ứng của công luận? Theo anh vụ đình hoãn này lợi hại ra sao?

Đáp: Cảm ơn Thái Anh đã cho tôi cơ hội chia sẻ một số suy nghĩ về vụ án Cù Huy Hà Vũ. Nhưng Thái Anh tham quá. Hỏi một câu mà thành 3, 4 câu làm cho tôi bội thực. Hơn nữa Thái Anh đặt những vấn đề rất chuyên môn và phức tạp của hệ thống luật quốc tế rất khó để trình bày ngắn gọn và đầy đủ. Do đó, tôi xin trả lời từng vấn đề một và tôi sẽ tìm cách làm đơn giản vấn đề để mọi người dễ theo dõi.

Vấn đề đưa hồ sơ của Cù Huy Hà Vũ ra Hội đồng Nhân quyền (HDNQ) LHQ thật ra chỉ là thủ tục chính thức để HĐNQ xét trưòng hợp bắt giam tùy tiện. Nếu chúng ta lên website của HĐNQ thì chúng ta thấy thông tin về Cù Huy Hà Vũ đã có trên đó trước rồi. Điều nầy có nghĩa Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã có mối quan tâm đặc biệt về trường hợp Cù Huy Hà Vũ trưóc khi chúng tôi chính thức đệ trình hồ sơ của ông ta.

Về tác dụng của đơn khiếu tố của Cù Huy Hà Vũ lên HĐNQ thì ở một chừng mực nào đó nó có ảnh hưởng tích cực cho vụ án chứ. Chúng ta nên nhớ là đây là vụ án chính trị. Và có lẽ vụ án chính trị lớn nhất từ khi Việt Nam đổi mới. Đặc biệt nó là vụ án chính trị lớn nhất từ khi ông Nguyễn Tấn Dũng ngồi ghế Thủ tướng.

Tôi nói đến giai đoạn Thủ tưóng Nguyễn Tấn Dũng vì đây là giai đoạn mà Việt Nam đã hội nhập vào cộng đồng thế giới. Vấn đề tư tưởng Mác Lê vô địch muôn năm, hay chủ nghĩa xã hội sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản, thì Đảng Cộng Sản (ĐCS) và Nhà nước chỉ nói với nhau nho nhỏ trong nhà, chứ ra ngoài thế giới thì tuyệt đối không hề nói tới vấn đề nầy.

Tôi nói vụ án Cù Huy Hà Vũ là vụ án chính trị lớn nhất từ xưa đến nay vì "tội ác" của ông ta là đặt lại giá trị chủ nghĩa Mác Lê, sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản (CS), đồng thời ông yêu cầu phải có dân chủ, đa đảng và xây dựng cơ chế pháp trị tam quyền phân lập. Nhưng dân chủ, đa đảng và tam quyền phân lập lại là những tiêu chí và nguyên lý chính trị căn bản mà Liên Hiệp Quốc đã đưa ra cho các nước hội viên trên thế giới.

Thành ra vụ án Cù Huy Hà Vũ không những đụng chạm đến quyền tự do ngôn luận của ngưòi dân mà còn là cơ hội để Việt Nam giải thích với thế giới quan điểm chính trị của một nhà nước cộng sản và so sánh nó với các tiêu chí và nguyên lý chính trị phổ quát được Liên Hiệp Quốc công nhận.

Thời trước nhiệm kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng các vụ án chính trị chỉ là một họp mặt xử lấy lệ để tuyên án theo quyết định của… "bề trên". Nhưng hiện nay Việt Nam đã hoàn toàn hội nhập thế giới, và cả thế giới đang xem Việt Nam có tôn trọng luật chơi chung không qua vụ án này. Nếu Việt Nam đã biết mượn thiên hạ hàng tỷ đô la để phung phí vào các công ty quốc doanh, thì Việt Nam cũng phải biết tôn trọng luật quốc tế mà trong đó có luật về an ninh thế giới, luật thương mại quốc tế, và luật về nhân quyền để tiếp tục nhận đưọc sự tài trợ vay vốn.

Như vậy thì chắc chắn sự quan tâm của quốc tế đối với vụ án phải làm cho nhà nước và ĐCS vô cùng thận trọng. Đồng thời vụ án này là cơ hội để Việt Nam chứng minh tính văn minh, dân chủ và tôn trọng nhân quyền của nhà nước Việt Nam.

Tình hình nhân dân Bắc Phi và Trung Đông nổi dậy đòi tự do dân chủ và Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết bảo vệ dân chúng nổi dậy chống độc tài cho thấy khi dân đã hết sợ độc tài thì "cái hết sợ" của họ rất phiền cho chế độ vì ngưòi dân có cả một thế giới yêu tự do dân chủ đứng đằng sau họ.

Do đó, tôi cho rằng việc hoãn lại ngày xử Cù Huy Hà Vũ phản ánh sự do dự của Nhà nước. Hoặc Việt Nam phải để cho ông Hà Vũ đưọc tự do để mua "tín dụng nhân quyền" với thế giới, hoặc cho ông đi tù và xù giá trị tín dụng nhân quyền. 10 ngày là thời gian dài đủ đề Bộ chính trị có thì giờ cân nhắc sự chọn lựa phưong thức giải quyết vụ án và hậu quả của nó.

Nói chung, tôi cho rằng hoãn ngày xử Cù Huy Hà Vũ là sách lược mua giờ thông minh. Nó có lợi cho cả hai bên bị cáo và Nhà nước.

H: Nếu anh nghĩ rằng công luận hay dư luận quốc tế làm cho Nhà nước (hệ thống tòa án) Việt Nam chùn chân, phải xét lại thủ tục và bước đi sắp tới của mình, thì có phải pháp luật Việt Nam đã có tiến bộ hơn so với khi trước, vì họ bớt chai mặt, tự ý, cố tình chà đạp một cách trắng trợn lên quy trình/trình tự pháp lý của một cá nhân mà Anh-Mỹ gọi là due process?

Đ: Đúng như thế. Pháp luật Việt Nam dù chưa hoàn chỉnh nhưng có những tiến bộ đáng kể. Tiến bộ là do sự hội nhập vào cộng đồng văn minh của nhân loại. Chúng ta đi từ một nền "pháp luật rừng sâu" ở thời kỳ đấu tranh giai cấp, đánh tư sản, tịch thu tài sản của giai cấp tư sản, bỏ tù các nhà tư sản một cách an nhiên tự tại, đến nền "pháp luật rừng xanh" khi bắt đầu đổi mới, và đến nền "pháp luật rừng thưa" khi hội nhập vào cộng đồng thế giới.

Có nghĩa rằng chúng ta vẫn chưa xây dựng được một hệ thống pháp luật tôn trọng công lý và lẽ phải. Điều nầy đưọc xác định bởi cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, cựu Chủ tịch quốc hội Nguyễn Văn An, và cựu Chánh án toà ánh nhân dân tối cao Nguyễn Văn Hiện, chứ không phải do cá nhân tôi võ đoán.

Hưóng tiến tới của xã hội văn minh là tiếp tục kiện toàn nền tòa án độc lập và bảo vệ ngưòi dân trước sự đàn áp của Nhà nước. Do đó, Việt Nam phải cho thế giới thấy sự tiến bộ của mình qua vụ án lớn này.

H: Yếu tố gì có khả năng làm cho Nhà nước Việt Nam phải xét lại cách xử sự luật rừng của mình? Có phải vì chuyện bất xứng của luật pháp Việt Nam so với luật pháp quốc tế hay vì luật pháp quốc tế có ràng buộc với vấn đề luật lệ kinh doanh, đầu tư của quốc tế vào Việt-Nam?

Đ: Khi chúng ta hội nhập vào thế giới văn minh thì chúng ta cũng phải cố sống cho có vẻ văn minh với thiên hạ. Giống như một anh nhà quê khi ở quê còn chân lấm tay bùn, nhưng khi đã ở tỉnh thành anh phải hành xử như một ngưòi thành phố.

Nói một cách khác, cuộc chơi này không khác gì cuộc chơi quanh bàn tiệc giữa bạn bè. Người ta cho anh ngồi chung bàn thì anh cũng phải có cách hành xử đẹp với anh em. Người ta bao anh một chầu bia này, thì anh cũng phải biết mời anh em một chầu bia khác. Anh không thể nào ì mặt ngồi vào bàn nhậu hết ngày này qua ngày khác rồi phủi đít đứng dậy ra về. Anh chơi như thế thì anh em sẽ khinh anh. Và từ từ ngưòi ta không chơi với anh nữa.

Quan hệ quốc tế nghe có vẻ to lớn, nhưng cũng chỉ là một sân chơi như thế thôi. Khi vào sân chơi thế giới ở LHQ thì người ta có luật chơi chung.

Hiện nay LHQ có 3 hội đồng là Hội Đồng Bảo An, Hội Đồng Nhân Quyền, và Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội để giải quyết ba vấn đề lớn của thế giới đó là vấn đề hòa bình và an ninh thế giới, vấn đề nhân quyền, và vấn đề kinh tế xã hội. Ba vấn đề này được điều tiết bởi những công ước quốc tế. Những công ước quốc tế là luật chơi chung. Ba vấn đề đó có giá trị ngang nhau trong sân chơi này.

Một quốc gia biết tôn trọng nhân quyền mà cứ hay quịt nợ thì là một quốc gia xấu. Một quốc gia giàu có mà cứ liên tục vi phạm nhân quyền thì cũng là một quốc gia xấu.

Nhưng một quốc gia vừa nghèo, vừa nợ nhiều mà cứ liên tục vi phạm nhân quyền thì là một quốc gia rất xấu. Dân chơi thứ thiệt không muốn chơi với hạng này.

Trong ba vấn đề lớn của thế giới, nhân quyền thuộc phạm vi đạo đức. Nó nói lên nhân cách của một quốc gia. Môt quốc gia tôn trọng nhân quyền là một quốc gia có nhân cách lớn, bạn bè trên thế giới quí trọng anh. Khi anh hoạn nạn các nước xúm lại giúp đỡ anh với sự quí mến, tôn trọng. Như Nhật Bản qua cơn động đất hiện nay. Còn anh sống không có nhân cách, chà đạp nhân quyền ngưòi dân của anh, khi anh hoạn nạn, ngưòi ta cũng giúp đỡ anh, nhưng bố thí cho anh như cho một ngưòi ăn mày. Tất nhiên anh cũng sẽ sống, nhưng sống trong sự tủi nhục.

H: Nhân đây cũng xin anh cho biết ý kiến về sự bất cập giữa luật quốc tế và luật quốc gia? Nhất là đối với Việt Nam, trong lúc tình trạng kinh tế suy đồi như hiện nay, thì sự bất cập này có ý nghĩa gì với giới cầm quyền nếu họ còn muốn duy trì được sự tin tưởng của quốc tế?

Đ: Như đã trình bày trên, khi chơi trên sân chơi quốc tế chúng ta phải biết tôn trọng luật chơi và chơi cho đẹp. Không ai muốn chơi với người chơi bẩn.

Ba vấn đề lớn của thế giới là hòa bình, nhân quyền, và kinh tế xã hội đều liên quan mật thiết với nhau. Trong ba vấn đề nầy vấn đề nhân quyền là vấn đề liên quan đến quan hệ giữa nhà nước sở tại và chính ngưòi dân của mình. Còn an ninh và kinh tế xã hội là những vấn đề liên quan đến quan hệ giữa nưóc này và nưóc khác.

Hồ sơ nhân quyền của một quốc gia trở thành một thứ mà trên đây tôi gọi là "tín dụng nhân quyền". Cách nhà nước ứng xử với người dân của mình tạo thành một thứ uy tín để ảnh huỏng đến các vấn đề quan hệ với các quốc gia khác trên thế giới về vấn dề an ninh và kinh tế xã hội. Như tôi đã trình bày trước đây, khi Việt Nam bị khủng hoảng kinh tế, thế giới sẽ nhìn vào tín dụng nhân quyền của Việt Nam để xem có nên giúp Việt Nam hay không. Ngân hàng Thế giới (World Bank) hay Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) sẽ nhìn vào cách Việt Nam tôn trọng luật nhân quyền quốc tế để đánh giá tín dụng tài chánh của Việt Nam.

Chúng ta có thể tự hỏi tại sao 10 năm trước các tổ chức thế giới không quan tâm đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam khi cho vay hay viện trợ mà bây giờ họ mới quan tâm?

Xin thưa, mười năm trước Việt nam mới chập chững hội nhập thế giới. Nợ nước ngoài chưa nhiều. Giá nhà đất ở Hà Nội Sài Gòn còn thấp. Các đại gia chưa có xe Rolls Royce Phantom 1 triệu rưỡi, chưa biết ăn tô phở $35 đô, các mệnh phụ phu nhân chưa biết đeo ví Louis Vutton, mặc áo quần Versace, Ralph Lauren v.v. Ngày nay chúng ta đã có tất cả. Như một tay chơi mới ngày nào tập tễnh bén mảng tới bàn nhậu với ngưòi lớn, ngày nay Việt Nam đã trở thành một tay chơi sành điệu, có thể nói là siêu đẳng.

Khi Việt Nam đã có mọi thứ vật chất rồi thì Việt Nam phải biết chơi đẹp theo luật chơi chung. Mà thế giới chỉ yêu cầu Việt Nam chơi đẹp với ngưòi dân của mình trước đã. Các tổ chức kinh tế của Liên Hiệp Quốc sẽ nhìn cách Việt Nam tôn trọng luật quốc tế để đánh giá tín dụng tài chính. Và hệ thống luật về nhân quyền, gồm Công ước Quốc tế về Chính trị và Dân sự, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, Nguyên tắc tam quyền phân lập, Công ước về Tự do lập hội v.v. là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống Công pháp Quốc tế vể an ninh và kinh tế.

H: Lâu nay Việt Nam vẫn không tuân thủ những gì họ ký kết với Liên Hiệp Quốc, như vậy Liên Hiệp Quốc có thể cưỡng ép Nhà nước Việt Nam thi hành những gì họ đã ký kết không, ví dụ như Luật Nhân quyền, và bằng cách nào?

Đ: Trong sân chơi quốc tế, uy tín đạo đức quốc gia rất quan trọng. Khi một nưóc tham gia vào một Công ưóc quốc tế có nghĩa nưóc đó chấp nhận luật chơi chung. Nhưng nếu nước đó không tôn trọng qui ước chung thì tùy mức độ vi phạm mà Liên Hiệp Quốc ứng phó. Ở mức độ nặng thì Liên Hiệp Quốc sẽ xử lý bằng vũ lực như Libya hiện nay, hay Serbia trước đây. Ở mức độ nhẹ hơn thì nguòi ta sẽ phong tổa kinh tế như đối với Iran, hay với Miến Điện. Ở mức độ nhẹ hơn nữa thì người ta sẽ cho vay cắt cổ, hoặc hạn chế tín dụng vay vốn v.v.

Chúng ta nên nhớ khi Việt Nam được vào WTO là Việt Nam đã được thế giới chấp nhận vào sân chơi chung. Một trong những điều kiện của WTO là Việt nam phải tôn trọng luật chơi quốc tế.

Do đó, năm 2005 Việt Nam đã ban hành Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế, xác định mối quan hệ giữa điều ước quốc tế với các văn bản quy phạm pháp luật trong nước; theo đó, trong trường hợp các văn bản Việt Nam khác với quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên thì áp dụng các quy định của điều ước quốc tế đó (Ðiều 6 khoản 1).

Như vậy là Việt Nam đã chấp nhận luật chơi chung. Luật Ký kết không những áp dụng cho luật về thương mại, hay an ninh, mà cho cả luật nhân quyền. Việt Nam tham gia công ước quốc tế về quyền chính trị và dân sự từ năm 1982. Với Luật ký kết này thì tất cả luật pháp Việt Nam vi phạm quyền căn bản của con người đưọc ghi trong điều 19 của Công ước và cũng điều 19 của Tuyên ngôn Nhân quyền đều vô hiệu lực. Cụ thể là điều 88 Bộ Luật hình sự hạn chế các quyền được nói, phát biểu ý kiến, và lưu hành tài liệu chính trị.

Liên Hiệp Quốc sẽ theo dõi vụ án Cù Huy Hà Vũ như là một trưòng hợp điển hình xem Nhà nước Việt Nam có đáng tin cậy khi tham gia WTO hay không.

Như đã trình bày trên, khả năng cưỡng chế thi hành Hiệp ước quốc tế của LHQ tùy theo trưòng hợp. Liên Hiệp Quốc có thể dùng vũ lực hay các biện pháp chế tài như phong tổa kinh tế, giới hạn tín dụng vay vốn, ngưng các chương trình viện trợ xã hội v.v..

H: Từ sau hai trận thế chiến và nhất là những sự đàn áp và tàn sát thảm khốc dân chúng của Gadaffi ở Libya gần đây, thì hai quốc gia, như Libya hay Việt Nam có thể coi vấn đề nhân quyền là phạm vi nội bộ của họ được không?

Đ: Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền năm 1948 xác định những giá trị phổ quát về quyền làm người. Nhưng tuyên ngôn ra đời trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Các nưóc cộng sản đứng đầu là Liên Xô miễn cưỡng tham gia tuyên ngôn, nhưng trong thâm tâm họ vẫn mơ một ngày chôn vùi thế giới tư bản. Họ vẫn chủ trương đấu tranh giai cấp để giành miếng ăn của đồng loại như động vật chưa đưọc thuần hốa. Do đó, nhân quyền không phù hợp với với cách mạng vô sản. Nhưng từ khi bức tưòng Bá Linh sụp đổ thì một số nước cộng sản trưóc đây như Ba Lan, Tiệp Khắc trở thành những quán quân về nhân quyền. Các nưóc lớn như Nga, Ukraine và các nưóc Trung Á cũng đi và quĩ đạo nhân quyền thế giới.

Từ khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc nâng cấp Ủy hội Nhân quyền thành Hội đồng Nhân quyền năm 2006, thì vấn đề nhân quyền trở thành vấn đề quan trọng ngang hàng với vấn đề hồa bình và an ninh thế giới, vấn đề kinh tế thế giới. Như thế thì vấn đề nhân quyền không còn là vấn đề nội bộ của môt quốc gia nào hết. Ngay cả nước văn minh cũng luôn luôn bị Hội đồng Nhân quyền giám sát chặt chẽ. Hoa Kỳ là nưóc vẫn bị chất vấn về vấn đề đối xử tù binh Al Quaeda tại Guatanama Bay. Thành ra vấn đề nhân quyền, dù là vấn đề nội bộ của một quốc gia, trở thành vấn đề chung của nhân loại. Nói một cách khác, người dân là công dân của một quốc gia, đồng thờì là công dân quốc tế của Liên Hiệp Quốc. Liên Hiệp Quốc có trách nhiệm bảo vệ công dân của mình.

Nhìn cách Hoa Kỳ và các nưóc Tây Phương xử lý Gaddafi thì cũng hiểu. Khi những thưòng dân Libya vô tội biểu tình chống độc tài bị đàn áp thì Hội đồng Bảo an LHQ đã biểu quyết phạt Gaddafi. Trong khi Việt Nam hấp tấp tuyên bố là không nên can thiệp vào nội bộ của nước khác, thì Trung Quốc đã lặng lẽ bỏ phiếu trắng, thay vì phủ quyết, cho phép LHQ dùng vũ lực can thiệp vào Libya để bảo vệ ngưòi dân.

H: Theo anh thì Nhà nước Việt Nam phải xử vụ án CHHV thế nào để gỡ lại thế đứng và uy tín (nếu có) của mình đối với thế giới?

Đ: Trở lại vụ án Cù Huy Hà Vũ, chúng ta thấy vụ án này không còn là vụ án xử Cù Huy Hà Vũ mà là vụ án ĐCS Việt Nam tự xử mình trước toà án quốc tế. Cách thức Bộ chính trị xử lý Cù Huy Hà Vũ trong vụ án nầy quyết định giá trị của ĐCSVN trước con mắt của thế giới.

Khi nghiên cứu hoạt động của Hội đồng Nhân quyền tôi rất kinh ngạc là trên website của họ đã có thông tin về vụ án Cù Huy Hà Vũ. Điều này cho thấy thế giới đang quan tâm sâu sắc vụ án này. Đơn khởi tố của Cù Huy Hà Vũ gởi lên Liên Hiệp Quốc càng giúp làm sáng tỏ trường hợp Cù Huy Hà Vũ dưới ánh sáng của luật nhân quyền.

Nhà nước Việt Nam có sự lựa chọn. Bóng đang ở trong chân ĐCS VN. Đá đẹp theo luật chơi quốc tế sẽ được thế giới hoan hô, tán thưởng. Tôi tin là lãnh đạo Việt Nam có sự khôn ngoan bắt kịp luật chơi nầy trong bối cảnh cách mạng dân chủ ở Bắc Phi và Trung Đông hiện nay. Đồng thời trong bối cảnh của một nền kinh tế xuống dốc không phanh, dự trữ đô la thiếu hụt, và khả năng chi trả các món nợ khổng lồ không có, nếu Nhà nước Việt Nam xử lý Cù Huy Hà Vũ theo luật rừng thì cái giá phải trả cho việc chơi bẩn sẽ rất lớn, có thể làm cho uy tín Việt Nam mất đi trước mắt của thế giới.

Các chế độ độc tài bị sụp đổ đều do những hành động của chính họ vì ảo tưỏng rằng bạo lực là chỗ dựa cho sự bền vững của chế độ. Một chế độ không tôn trọng nhân quyền là tự mình chặt một chân ghế đang củng cố của chế độ. Chỉ có sự tôn trọng nhân quyền mới là nền tảng đạo đức và tinh thần của một chế độ và làm cho chế độ bền vững.

H: Cám ơn anh Phước đã bỏ thì giờ trả lời và dẫn giải tường tận cuộc phỏng vấn này. Như anh và nhiều người Việt Nam khác, tôi cũng hy vọng Luật sư Cù Huy Hà Vũ sẽ được Nhà nước xử vô tội trong vụ án này.

Đ: Cám ơn Thái Anh, chúng ta sẽ chờ xem.

N.K.T.A

Người phỏng vấn gửi trực tiếp cho BVN

****

Phụ lục:

5 luật sư bào chữa cho ông Cù Huy Hà Vũ

Công Lý

(ANTĐ) – Theo tin từ TAND TP Hà Nội, phiên tòa hình sự sơ thẩm xử ông Cù Huy Hà Vũ chính thức diễn ra vào sáng 4-4. Hội đồng xét xử gồm 3 thành viên (một Thẩm phán, hai Hội thẩm nhân dân) do Thẩm phán Nguyễn Hữu Chính – Chánh tòa hình sự TAND TP Hà Nội ngồi ghế chủ tọa.

Theo ông Nguyễn Hữu Chính, sở dĩ phiên tòa lùi lại chục ngày do trước đó, ông Cù Huy Hà Vũ đã có đơn đề nghị được thực hiện một số quyền của mình trước và trong phiên tòa. Xét thấy một số đề nghị của ông Cù Huy Hà Vũ là hợp pháp, TAND TP Hà Nội chấp nhận và quyết định cho phiên tòa lùi lại so với dự kiến ban đầu.

http://www.boxitvn.net/bai/19211/image001-1490

Bị can Cù Huy Hà Vũ trước khi bị bắt. (ảnh do cơ quan an ninh cung cấp)

Theo cáo trạng của VKSND TP Hà Nội, từ năm 2009 đến 10-2010, ông Cù Huy Hà Vũ đã có nhiều bài viết, bài trả lời phỏng vấn đăng tải trên mạng Internet với nội dung "tuyên truyền chống Nhà nước CHXH Việt Nam". Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an thông báo đã thu thập được nhiều chứng cứ, tài liệu cho thấy bị can có hành vi "tuyên truyền, xuyên tạc phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, đòi lật đổ chế độ, thực hiện đa nguyên đa đảng"… Với những hành vi trên, bị can Cù Huy Hà Vũ bị truy tố về tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo điều 88, khoản 1, BLHS với khung hình phạt từ 3 đến 12 năm tù.

Tham gia tố tụng còn có 5 Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Cù Huy Hà Vũ tại tòa. Rất ít khi có một phiên tòa mà nhiều Luật sư tham gia bào chữa cho một bị cáo như vậy. Tuy nhiên, phiên tòa vẫn diễn ra bình thường, đảm bảo sự tranh tụng tại tòa được khách quan, công bằng.

C.L

# Bàn Mô.t Chút Vê` Vu. Án LS Cù Huy Hà Vu~ (1,2)

 
# Bàn Một Chút Về Vụ Án LS Cù Huy Hà Vũ
 
 
 
Xin nhắc lại, LS Nguyễn Xuân Phước có văn phòng ở thành phố Richarson, Texas, đã đại diện cho gia đình của TS Cù Huy Hà Vũ. Bà Cù Thị Bích Xuân, em gái của TS Vũ, là người đã trao quyết định ủy quyền cho LS Phước để nạp đơn khiếu kiện lên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, về việc Nhà Cầm Quyền Hà Nội đã vi phạm vào Điều 19 của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, và cũng vi phạm vào Điều 19 của Bản Công Ước Quốc Tế Về Quyền Dân Sự Và Chính Trị, trong tiến trình bắt giam và kết tội Điều 88 của Bộ Luật Hình Sự đối với TS Vũ.
 
 
Qua bài phỏng vấn dưới đây của phóng viên Nguyễn Khoa Thái Anh với LS Nguyễn Xuân Phước, chúng ta có nhận xét rất đáng mừng khi thấy LS Phước rất tài giỏi, nắm rất rõ về luật pháp quốc tế, cũng như có rất nhiều những sáng kiến rất độc đáo như nhận xét: "Vụ án này không còn là vụ án xử TS CHHV mà là Đảng CSVN tự xử mình trước Tòa Án Quốc Tế" và đưa ra 3 giai đoạn của nền luật pháp nước CHXHCNVN: "pháp luật rừng sâu" ở thời kỳ đấu tranh giai cấp, đánh tư sản, tịch thu tài sản của giai cấp tư sản, bỏ tù các nhà tư sản một cách an nhiên tự tại, đến nền "pháp luật rừng xanh" khi bắt đầu đổi mới, và đến nền "pháp luật rừng thưa" khi hội nhập vào cộng đồng thế giới." Tuy nhiên, khi LS Phước cho rằng, "đây là vụ án chính trị lớn nhất từ xưa đến nay", e rằng nó đi trật đường rày với luật pháp của nước CHXHCNVN. Nên nhớ, Điều 88 (tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCNVN) nằm trong Bộ Luật "Hình" Sự, và chưa bao giờ NCQ Hà Nội công nhận giam giữ 1 tù nhân chính trị. Ở đây, LS Phước nên quen phân biệt rõ giữa nước VN và nước CHXHCNVN, đừng nhầm lẫn 2 từ ngữ này, vì họ đã đổi tên nước thành CHXHCNVN từ năm 1976. NCQ Hà Nội thường cho rằng, không ai bị bắt bớ vì bất đồng chính kiến, nên đất nước CHXHCNVN không có tù chính trị. Đây là điểm rất lưu manh trong luật pháp nước CHXHCNVN, nó bảo vệ NCQ Hà Nội trước con mắt của quốc tế. Tuy rằng quốc tế cũng hiểu sự bịp bợm của nó, nhưng vẫn không làm gì được nó, qua những vụ xử án mang tính chất "chính trị" rất rõ ràng như vụ xử án linh mục Nguyễn Văn Lý, LS Lê Thị Công Nhân, LS Nguyễn Văn Đài, và LS Lê Công Định, và hàng chục vụ xử án khác.

Có 4 điểm cần phân tích cho rõ:

A) Thông thường đối với bất kỳ quốc gia nào, luật quốc tế phải cao hơn luật quốc gia, nhưng đối với NCQ Hà Nội có thể thứ tự này bị đảo ngược.

Trong qúa khứ, đã có những phản ứng rất quyết liệt của quốc tế; vì thế, bà phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao của nước CHXHCNVN Nguyễn Phương Nga đã lên tiếng tố cáo đích danh Liên Minh Âu Châu, Anh, Mỹ xâm phạm vào nội bộ của nước CHXHCNVN, nguyên văn như sau:
"Việc bắt giữ, điều tra, xét xử và kết án các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng các quy định của pháp luật Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Đáng tiếc là đại diện của Anh, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đã có những nhận xét thiếu thiện chí về vấn đề này, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam." (http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Dai-dien-Anh-My-va-EU-can-thiep-viec-noi-bo-VN-891051/). Có lẽ bà Nga chẳng biết gì về 2 văn kiện, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (*1) và Công Ước Quốc Tế Về Quyền Dân Sự Và Chính Trị (*2) mà nói: "các quy định của pháp luật Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế". Bà Nga đâu biết rằng, pháp luật của nước CHXHCNVN đã vi phạm rất nhiều vào những quy định của luật pháp quốc tế qua văn kiện (*1) và (*2). Ngày 18 tháng 7 năm 1977, Hà Nội gia nhập Liên Hiệp Quốc, đương nhiên Nhà cầm quyền Hà Nội phải công nhận và cam kết tuân thủ những gía trị của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) khi trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc. Kế đến, vào ngày 24 tháng 9 năm 1982, Hà Nội lại ký kết tuân thủ theo Công Ước Quốc Tế Về Những Quyền Dân Sự Và Chính Trị (1966). Tóm lại, NCQ Hà Nội phải tuân thủ 2 văn kiện này và phải soạn luật pháp của mình cho phù hợp với 2 văn kiện này. Quốc tế cũng có luật chơi của quốc tế. Thà rằng NCQ Hà Nội đừng ký kết tham gia, còn tham gia thì phải tuân thủ luật chơi của quốc tế, không thể cứng đầu lên tiếng: "Nhân quyền Việt Nam khác với nhân quyền của Hoa Kỳ, hay khác với nhân quyền của các quốc gia khác." Nhiều khi, NCQ Hà Nội lại thường lên tiếng: "Luật pháp của CHXHCNVN khác với luật pháp của thế giới, không thể đem luật pháp của một nước này áp đặt lên một nước kia." Thật ra, câu trên này chỉ đúng có một nửa. Đúng là không thể áp dụng luật pháp của quốc gia này lên quốc gia kia, nhưng vẫn phải tuân thủ những điểm chung chung mà quốc tế đã đặt ra. Chính vì những điểm chung chung này mà đại sứ Hoa Kỳ Michael Michalak, trước đây đã lên tiếng kêu gọi NCQ Hà Nội phải phóng thích vô điều kiện những nhà dân chủ, và cáo buộc nước CHXHCNVN đã vi phạm vào những quy định trong Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Tương tự, bà Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Hillary Clinton, Dân Biểu Cao Quang Ánh, Dân Biểu Loretta Sanchez... cũng đồng loạt lên tiếng. Cùng lúc đó, các hiệp hội về nhân quyền như Human Rights Watch, Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam, Hội Luật Sư Quốc Tế, ... cũng đã lên tiếng cáo buộc Nhà cầm quyền CHXHCNVN vi phạm những nguyên tắc căn bản trong việc xử án.
Dưới đây chỉ là sơ khởi tóm lược những vi phạm của NCQ Hà Nội vào 2 văn kiện quốc tế (*1) & (*2):
 
 
1) Điều 88 (Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCNVN) trong Bộ Luật Hình Sự đã vi phạm vào Điều 19 của BTNQTNQ. Bất cứ công dân nào cũng có quyền chỉ trích những việc làm sai trái của NCQ, nhờ đó, đất nước mới tiến bộ, phát triển, NCQ cần cám ơn những công dân nào chỉ trích. Chỉ Thị 37 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng vi phạm vào điều 19 này khi cấm tư nhân ra báo. Điều 19 cho mọi người được quyền tiếp nhận và phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện, lẽ dĩ nhiên trong đó có cell phones, laptop, computers,.. Nhà cầm quyền CHXHCNVN không thể dùng những phương tiện này coi như những vật chứng để kết tội những nhà dân chủ tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCNVN.
 
 
2) Rất nhiều vụ xử án, quan tòa cứ đem "nhân thân tốt" ra để giảm án cho những đảng viên của ĐCSVN như chúng ta thường thấy qua những vụ xử án của Thiếu Tướng Bùi Quốc Huy, Ủy Viên Trung Ương Đảng Trần Mai Hạnh, Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Thể Dục Thể Thao Phó Lương Quốc Dũng, Thứ Trưởng Bộ Thương Mại Mai Văn Dâu, Phó Giám Đốc Sở Giao Thông Vận Tải Huỳnh Ngọc Sỹ, Tổng Biên Tập Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam Đào Duy Quát... Những việc làm này vi phạm vào Điều 1 của BTNQTNQ cũng như Điều 52 Hiến Pháp (Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật). Một sự bất công rất khủng khiếp: Tấm thẻ Đảng không khác gì kim bài miễn tử vua cho của thời phong kiến, cùng lắm là bị xử lý nội bộ. Nhiều khi người phạm tội còn được thuyên chuyển đi nơi khác với quyền hành chức vụ còn cao hơn xưa.
3) Việc anh Trần Huỳnh Duy Thức khai trước tòa rằng anh ta bị ép cung, bị nhục hình. Điều này đã vi phạm vào Điều 5 của BTNQTNQ. Tất cả những ai từng ở tù, ít nhiều đều bị tra tấn, đánh đập rất tàn nhẫn, rất dã man. Việc vi phạm này coi như là điều hiển nhiên không cần phải chứng cớ. Còn muốn bằng cớ, có lẽ chúng ta đếm không hết những nạn nhân như: Mục sư Nguyễn Hồng Quang, Ms Nguyễn Công Chính, chị Lê Thị Kim Thu, Ms Trần Văn Kỳ, Ms Nguyễn Trung Tôn ... Công An đánh dân được coi như luật bất thành văn. Qúy vị có thể vào http://youtube.com và tìm "công an đánh dân", sẽ có biết bao nhiêu video clips chứng minh điều đó. Chỉ cần qúy vị quên mang mũ an toàn là đã bị công an đánh rồi. Việc tra tấn, đánh đập này cũng đã vi phạm vào điều 72 Hiến Pháp (Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật...)

4) Trường hợp chị Trần Khải Thanh Thủy, bị bọn xã hội đen hay công an gỉa xã hội đen, ném phân tươi vào nhà 14 lần. Dù chị Thủy đã khiếu nại nhiều lần trước nơi công quyền, nhưng không được luật pháp bảo vệ. Việc này NCQ Hà Nội đã vi phạm vào Điều 7 của BTNQTNQ. Vì thế, chẳng lạ gì ông Tham Tán Chính Trị Brian Aggeler đã chính thức viết đơn can thiệp thẳng với ông Nguyễn Thanh Sơn, trực thuộc Bộ Công An lúc đó.

5) Chị Trần Khải Thanh Thủy cũng đang bị giam cầm một cánh độc đoán. Chỉ vì một cuộc ấu đả, mà Nhà cầm quyền CHXHCNVN đã giam chị Thủy từ ngày 10/10/2009 đến hôm nay 25/01/2010, vị chi đã 3 tháng 15 ngày. Việc này đã vi phạm vào Điều 9 của BTNQTNQ. Việc NCQ Hà Nội đã tạm giam chị Phạm Thanh Nghiên trong suốt 16 tháng 13 ngày cũng vi phạm Điều 9 này.
 
 
6) Vừa rồi, hàng chục công an đã xâm nhập vào nhà ở của anh Nguyễn Bá Đăng, và bắt anh đi mà chẳng có một trát tòa án. Anh Đỗ Nam Hải cũng thường xuyên bị những trường hợp như thế. Việc này vi phạm điều 12 của BTNQTNQ.
 
 
7) Chánh sách hộ khẩu của Nhà cầm quyền CHXHCNVN đã vi phạm vào điều 13.1 của BTNQTNQ. Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia của mình mà không cần phải xin phép ai, hoặc phải có hộ khẩu mới được ở.

8) Mới đây thôi, bà phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao nước CHXHCNVN, Nguyễn Phương Nga đã từng lên tiếng rằng Tham Tán Chính Trị Hoa Kỳ Christian Marchant phải tuân thủ luật pháp Việt Nam. Vì ông Christian Marchant không tuân thủ nên bị nhiều cảnh sát VN vật nằm xuống đường, cùng khiêng ông lên xe, rồi đóng cửa xe làm giập chân ông ta vài lần. Điều này NCQ Hà nội đã vi phạm luật quốc tế Vienna Convention về Quan Hệ Ngoại Giao (Diplomatic Relations), trong có điều khoản "bất khả xâm phạm thân thể nhà ngoại giao" (diplomatic immunity).

B) Có một điểm rất lưu manh cần nhắc nhở, nó nằm ở Điều 69 Hiến Pháp (công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật).

Từ câu thòng "theo quy định của pháp luật", NCQ Hà Nội đẻ ra Điều 88 của Bộ Luật Hình Sự. Có nghĩa rằng, anh có quyền tự do ngôn luận, muốn nói gì nói, nhưng phải theo quy định của Điều 88, đừng có tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCNVN, mang tội hình sự. Có 2 cách để phản biện, câu "theo quy định của pháp luật" này mâu thuẫn với toàn bộ Bản Hiến Pháp. Đơn giản, luật hiến pháp là luật cao nhất của một đất nước, không thể chạy theo bất kỳ một quy định nào của Nhà nước. Cách thứ hai, căn cứ vào điều 146 Hiến Pháp (Hiến pháp nước CHXHCNVN là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp), Điều 88 đã vi hiến vì không phù hợp với Điều 69, coi như Điều 88BLHS là luật con, hãm hiếp luật mẹ Điều 69HP.

C) Nước CHXHCNVN cũng có tam quyền: hành pháp, lập pháp, và tư pháp, nhưng thực chất không phân (không phân quyền riêng biệt, 1 người có thể nắm 2 quyền), không lập (không độc lập, dưới sự chỉ huy của Đảng).

Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đã từng tuyên bố: "3 quyền này phải được chỉ đạo bởi Đảng Cộng Sản Việt Nam." Những người nằm trong hành pháp và tư pháp đều do Đảng chỉ định, hay lập pháp được bầu cho có lệ, 95% là đảng viên của ĐCSVN, 5% chỉ để làm kiểng cho việc hợp thức hóa là có người ngoài Đảng nằm trong quốc hội. Một cái quốc hội tả bí lù, hành pháp như Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Minh Triết còn là đại biểu quốc hội (lập pháp). Coi như một người có thể vừa có trách vụ hành pháp và lập pháp cùng một lúc, coi như vừa làm luật rồi vừa thi hành luật, nên bị gọi "vừa đa banh, vừa làm trọng tài". Theo Điều 83 Hiến Pháp (Quốc Hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCNVN, nhưng theo link (http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201008/Quoc-hoi-co-the-hop-bat-thuong-ban-sua-Hien-phap-931640/), QH đã không dám quyết định bất cứ việc gì, mà phải "trình sang" Bộ Chính Trị, Trung Ương, thế này là thế nào ??? Qủa thật, đây là một điều qúa nhục nhã cho Chủ Tịch QH Nguyễn Phú Trọng và Phó Chủ Tịch QH Uông Chu Lưu khi lên tiếng: "Việc đại sự liên quan đến sửa Hiến pháp, tôi đã nêu từ sớm lắm rồi. Đảng đoàn QH đã gửi tờ trình sang Bộ Chính trị, Trung ương với giả định nếu bỏ HĐND thì phải sửa Hiến pháp ngay kỳ họp này hoặc kỳ họp khác vào cuối năm". Điều này khẳng định qúa rõ, QH chỉ là bù nhìn, dưới sự chỉ đạo của ĐCSVN.

D) Điều 4 Hiến Pháp (ĐCSVN, ..., là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội).

1) Hiến Pháp là bộ luật cao nhất nước, được đặt ra nhằm mục đích mang lại công bằng, bình đẳng cho mọi người, mọi đảng phái... Câu hỏi được đặt ra, tại sao Hiến Pháp lại dành quyền ưu tiên cho ĐCSVN được quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội??? Chẳng lẽ các đảng phái khác không được quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội??? Tại sao lại có sự bất công vô lý như thế??? Điều 4 Hiến Pháp bất công rõ rệt như thế này đáng cho vào sọt rác.

2) Đảng Cộng Sản Việt Nam, là một danh từ riêng của một nhóm người, không thể được phép bỏ vào Hiến Pháp. Một đảng có thể bị giải tán là trường hợp rất bình thường. Chẳng lẽ mỗi khi ĐCSVN chết đi lại phải sửa bản Hiến Pháp à ??? Theo quy luật tự nhiên, tất cả những điều khoản trong Hiến Pháp phải dựa theo những luật lệ chung chung để áp dụng chung cho tất mọi trường hợp xảy ra.

Qủa đúng như LS Phước đã nói: "Nước Việt Nam vẫn chưa xây dựng được một hệ thống pháp luật tôn trọng công lý và lẽ phải. Điều này đã được xác định bởi cựu Bộ Trưởng Tư Pháp Nguyễn Đình Lộc, cựu Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, và cựu Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Nguyễn Văn Hiện." Ba người này đã từng là những người đứng đầu cơ quan tư pháp, lập pháp, tòa án nhân dân tối cao, nên sự xác định của họ rất là chính xác. Hệ thống pháp luật của nước CHXHCNVN được đặt ra với mục đính bảo vệ cho một nhóm cầm quyền có Đảng tịch, không bảo vệ cho người dân. Bởi vậy, gần như sau bất kỳ phiên xử án nào, khi bản án được đưa ra, đa số đều cho là "bản án bỏ túi". Dễ hiểu, bản án được viết sẵn nằm trong túi chánh án, trước phiên xử án. Còn người ngoại quốc, khi xem xong bản án thì thốt lên: "Tòa án của loài đại thử (Kangaroo Court)

Tổng Nổi Dậy Xuống Đường Bà Con Ơi,
Ngày 29 tháng 3 năm 2011
Xin phổ biến tự do
 
 
PS: BTNQTNQ (1948) và BCUQTVNQDSVCT (1966)

(*1) Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (Việt)
http://www.vietnamhumanrights.net/viet/vintbill/phanmodau.htm

TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN (1948)


LỜI MỞ ĐẦU

Xét rằng việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới,

Xét rằng việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người được tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng, đượïc giải thoát khỏi sự sợ hãi và khốn cùng, được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của con người,

Xét rằng điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền,

Xét rằng điều cốt yếu là phải phát triển những tương quan hữu nghị giữa các quốc gia,

Xét rằng, trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, các dân tộc đã tái xác nhận niềm tin vào những nhân quyền căn bản, vào phẩm cách và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, cùng quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội và nâng cao mức sống trong một môi trường tự do hơn,

Xét rằng các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc để phát huy sự tôn trọng và thực thi trên toàn cầu những nhân quyền và những quyền tự do căn bản,

Xét rằng một quan niệm chung về tự do và nhân quyền là điều tối quan trọng để thực hiện trọn vẹn cam kết ấy.

Vì vậy,

ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC

Công bố bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền này như một tiêu chuẩn thực hiện chung cho tất cả các dân tộc và quốc gia, sao cho mỗi cá nhân và đoàn thể xã hội luôn nhớ tới bản tuyên ngôn này, nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này bằng học vấn và giáo dục, và bằng những biện pháp lũy tiến trên bình diện quốc gia và quốc tế, bảo đảm sự thừa nhận và thực thi trên toàn cầu các quyền tự do này cho các dân tộc thuộc các quốc gia hội viên hay thuộc các lãnh thỗ bị giám hộ.

Điều 1: Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái.

Điều 2: Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.

Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp lý hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà người đó trực thuộc, dù là nước độc lập, bị giám hộ, mất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền.

Điều 3: Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể.

Điều 4: Không ai có thể bị bắt làm nô lệ hay nô dịch; chế độ nô lệ và sự mua bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm chỉ.

Điều 5: Không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6: Ai cũng có quyền được công nhận là con người trước pháp luật bất cứ tại đâu.

Điều 7: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị. Mọi người đều được bảo vệ chống lại mọi kỳ thị hay xúi giục kỳ thị trái với Tuyên Ngôn này.

Điều 8: Ai cũng có quyền yêu cầu tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp chống lại những hành động vi phạm những quyền căn bản được hiến pháp và luật pháp thừa nhận.

Điều 9: Không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách độc đoán.

Điều 10: Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghiã vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.

Điều 11:

  1. Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ.
  2. Không ai có thể bị kết án về một tội hình sự do những điều mình đã làm hay không làm, nếu những điều ấy không cấu thành tội hình sự chiếu theo luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế hiện hành; mà cũng không bị tuyên phạt một hình phạt nặng hơn hình phạt được áp dụng trong thời gian phạm pháp.

Điều 12: Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy.

Điều 13:

  1. Ai cũng có quyền tự do đi lại và cư trú trong quản hạt quốc gia.
  2. Ai cũng có quyền rời khỏi bất cứ quốc gia nào, kể cả quốc gia của mình, và có quyền hồi hương.

Điều 14:

  1. Khi bị đàn áp, ai cũng có quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác.
  2. Quyền này không được viện dẫn trong trường hợp sự truy tố thực sự chỉ căn cứ vào những tội trạng không có tính cách chính trị hay vào những hành động trái với mục đích và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 15:

  1. Ai cũng có quyền có quốc tịch.
  2. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16:

  1. Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và lập gia đình mà không bị ngăn cấm vì lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hôn thú cũng như khi ly hôn.
  2. Hôn thú chỉ có giá trị nếu có sự thuận tình hoàn toàn tự do của những người kết hôn.
  3. Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và phải được xã hội và quốc gia bảo vệ.

Điều 17:

  1. Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác.
  2. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán.

Điều 18: Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng.

Điều 19: Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền không bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia.

Điều 20:

  1. Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội có tính cách hoà bình.
  2. Không ai bị bắt buộc phải gia nhập một hội đoàn.

Điều 21:

  1. Ai cũng có quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình, hoặc trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn.
  2. Ai cũng có quyền bình đẳng tham gia công vụ trong nước.
  3. Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia; ý nguyện này phải được biểu lộ qua những cuộc tuyển cử có định kỳ và trung thực, theo phương thức phổ thông đầu phiếu kín, hay theo các thủ tục tuyển cử tự do tương tự.

Điều 22: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hoá cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia.

Điều 23:

  1. Ai cũng có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp.
  2. Cùng làm việc ngang nhau, mọi người được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử.
  3. Người làm việc được trả lương tương xứng và công bằng, đủ để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm, và nếu cần, sẽ được bổ sung bằng những biện pháp bảo trợ xã hội khác.
  4. Ai cũng có quyền thành lập nghiệp đoàn hay gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24: Ai cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm việc và những ngày nghĩ định kỳ có trả lương.

Điều 25:

  1. Ai cũng có quyền được hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và gia đình kể cả thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết; ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội trong trường hợp thất nghiệp, đau ốm, tật nguyền, góa bụa, già yếu, hay thiếu phương kế sinh nhai do những hoàn cảnh ngoài ý muốn.
  2. Sản phụ và trẻ em được đặc biệt săn sóc và giúp đỡ. Tất cả các con, dầu là chính thức hay ngoại hôn, đều được hưởng bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26:

  1. Ai cũng có quyền được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng và căn bản. Giáo dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được phổ cập. Giáo dục cao đẳng phải được phổ cập cho mọi sinh viên trên căn bản bình đẳng, lấy thành tích làm tiêu chuẩn.
  2. Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề cao sự thông cảm, bao dung và hữu nghị giữa các quốc gia, các cộng đồng sắc tộc hay tôn giáo, đồng thời yểm trợ những hoạt động của Liên Hiệp Quốc trong việc duy trì hoà bình.
  3. Cha mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn giáo dục cho các con.

Điều 27:

  1. Ai cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy.
  2. Ai cũng được bảo vệ bởi những quyền lợi tinh thần và vật chất phát sinh từ những sản phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật của mình.

Điều 28: Ai cũng có quyền được hưởng một trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.

Điều 29:

  1. Ai cũng có nghiã vụ đối với cộng đồng trong đó nhân cách của mình có thể được phát triển một cách tự do và đầy đủ.
  2. Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra ngõ hầu những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn.
  3. Trong mọi trường hợp, những quyền tự do này không thể hành xử trái với những mục tiêu và tôn chỉ của Liên Hiệp Quốc.

Điều 30: Không một điều khoản nào trong Tuyên Ngôn này có thể giải thích để cho phép một quốc gia, một đoàn thể, hay một cá nhân nào được quyền hoạt động hay làm những hành vi nhằm tiêu hủy những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn này.

(Phỏng theo bản dịch của Trung Tâm Việt Nam Về Nhân Quyền
với sự tu chính của Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Nhân Quyền.)

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

# Lo+`i Ke^u Go.i Cu?a Vo+. Va` Em Cu?a TS Cu` Huy Ha` Vu~

# Lời Kêu Cứu Của Vợ Và Em Của TS Cù Huy Hà Vũ