Thứ Ba, 8 tháng 2, 2011

Cần xét xử Cuộc Tàn sát Tết Mậu Thân ở Huế


LTS. Luật sư Trần Thanh Hiệp là chủ tịch Trung Tâm Việt Nam về Nhân Quyền, trụ sở đặt tại Paris. Ông viết bài dưới đây theo lời yêu cầu của Ngày Nay nhân dịp kỷ niệm 40 năm CSVN tổng tấn công và tàn sát 6000 dân lành tại Huế hồi Tết Mậu Thân, 1968.

Đêm mồng một Tết năm Mậu Thân (30-01-1968), 12 ngàn quân cộng sản đã nổ súng tấn công thành phố Huế, chiếm đế đô cũ của nhà Nguyễn trong 26 ngày.

1. Chiến dịch Đông Xuân, cửa ngõ đi vào tội ác.

Cuộc binh biến này là một trong những cao điểm của Chiến dịch Đông-Xuân, với một quân số gần 200 ngàn người gồm cả bộ đội chính qui lẫn du kích, chính ủy, cán bộ CS xâm nhập từ miền Bắc cũng như tuyển mộ tại chỗ, mà Hà Nội đã mở ra ở chiến trường miền Nam, vào ba năm cuối thập niên 1960, trong ý đồ tạo thế mạnh trên chiến trường để áp đảo trên bàn hội nghị nếu buộc phải đi vào cuộc thương lượng.

Ngày thứ 27, những tay súng xâm lăng Huế đã bị quân lực VNCH cùng với quân đội Đồng minh đánh bật ra khỏi những nơi họ chiếm đóng. Các trận đánh đã chấm dứt, một trong những việc khẩn cấp trong khi chờ đợi cuộc sống bình thường trở lại trên miền sông Hương núi Ngự là lo kiểm điểm thương vong. Đã không có cuộc kiểm tra dân chúng thật sự nào được thực hiện. Nhưng đại cương, chỉ biết rằng tính tới tháng 03-1968, theo thống kê của nhà cầm quyền thì có 1.900 dân thường được đưa vào bệnh viện vì thương tích chiến tranh và khoảng 5.800 người bị CS bắt đi mất tích. Và cho đến bây giờ, tất cả những người này coi như đã chết. Nhưng họ đã chết như thế nào?

Đã có lúc người ta tưởng rằng đó là những bí mật đã bị chôn vùi dưới lòng đất và trước sau gì thì thời gian cũng sẽ xóa hết vết tích thôi. Nhưng không ngờ rằng chẳng bao lâu sau sự thật đã dần dần hé lộ. Và một loạt tội ác ghê rợn vì mức độ dã man làm chỗi dậy lương tâm loài người lần lượt được vạch trần ra trước ánh sáng. Vô số tử thi được tìm thấy rải rác, hay tập trung trong những hố chôn tập thể, ở những vùng chung quanh Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Bốn mươi năm đã trôi qua. Không biết có bao nhiêu người nay còn muốn nhắc lại câu chuyện Tổng công kích cách mạng của cộng sản tại Huế, còn đoái hoài tới những kẻ xấu số đã mất đi mạng sống của mình một cách thảm thương. Đành rằng trước những tội ác đảo lộn luân thường đạo lý của Phát xít Quốc xã và Cộng sản toàn trị, thế kỷ XX đã bị tố cáo trước công luận thế giới là man rợ xưa nay chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại. Nhưng công luận đã không đáp ứng được nhu cầu công lý. Có gì để đền bồi cho thân nhân hàng ngàn người xấu số đã chết tức tưởi dưới bàn tay khát máu của cộng sản tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân? Và những kẻ sát nhân đã phải trả lời ra sao về tội ác của chúng? Có thể đành tâm im lặng nhìn cuộc sống thị phi lẫn lộn kéo dài vô tận được không?

Một người Mỹ từng có nhiều công trình nghiên cứu thâm sâu về những người Cộng sản Việt Nam, ông Douglas Pike, khi lập một hồ sơ về biến cố Tết Mậu Thân đã viết rằng: "Ngoài tiếng thở dài cay đắng, người dân sẽ nói cho quí vị hay những gì về Huế mà thế giới đã không biết tới, và nếu có biết, họ cũng chẳng quan tâm đến những gì ở Huế sau 27 ngày gọi là "giải phóng Thừa Thiên" (…). Những gì xảy ra ở Huế làm cho những ai còn là người văn minh trên địa cầu nầy phải dành nhiều phút giây tĩnh tâm để tư duy về những điều đã được khắc ghi, cùng với những tai họa khủng khiếp khác về những hành động dã man của người đối với người sẽ không bao giờ quên được và trở thành một dấu ấn sâu sắc trong dòng lịch sử nhân loại" (lời dịch của Tuệ Chương).

Bốn mươi năm sau. Chúng ta, những người không Cộng sản còn nhớ được những gì và suy nghĩ gì về cuộc giết người hàng loạt này ?

2. Bộ mặt ghê rợn của ý thức hệ.

Một người dân Huế nhớ lại: "Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2,326 sọ người. Sau Tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng Sản Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4,000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6,000 người. Có nhà báo ước tính 5,000. Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu".

Nhiều đợt kiếm xác làm liên tưởng tới cảnh hành hình trong ngục của Diêm Vương. Các nạn nhân tay bị trói bằng dây thép gai buộc ra sau lưng, miệng nhét giẻ, thân xác không còn nguyên vẹn nhưng lại không có dấu vết bị thương. Chắc hẳn những người này đã bị chôn sống. Nơi tìm thấy nhiều xác nạn nhân nhất là ở những đồi cát của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá Đông và Xuân Ổ; đây là vùng đồi cát liên tiếp nhau, nhiều đụn cỏ, ở gần biển Đông. Cách xa cách vùng đầm nước mặn, đây là nơi thuận tiện để chôn tập thể. Đã có hơn 800 người được phát giác ở khu này. Các nạn nhân bị trói thành từng nhóm 10 hoặc 12 người, sắp hàng bên cạnh những cái hố do dân địa phương đào, sau đó bị bắn bằng súng máy mà nhờ có vỏ đạn bên cạnh hố chôn nên đoán là do Nga sản xuất. Một địa điểm khác nữa là ở quận Nam Hòa, chỗ gọi là khe Đá Mài, hay là nơi người dân Phủ Cam bị giết, tìm thấy hôm 19-9-1969. Cán binh Cộng Sản đào ngũ khai với viên chức tình báo thuộc đoàn Không Kỵ 101 của Hoa Kỳ rằng họ đã chứng kiến việc giết hàng trăm người ở khe Đá Mài, cách Huế 10 dặm về phía nam vào tháng 02-1968. Khu nầy hoang vu, không có dân cư, khó đến được, một toán tìm kiếm đã tới được khe Đá Mài báo cáo rằng trong dòng suối có rất nhiều đống xương người chồng chất lên nhau.

Nhờ những tin tức gom góp được, người ta tạm phỏng đoán những gì xảy ra ở khe Đá Mài. Tại khu Phủ Cam, nơi có khoảng 40 ngàn dân, những người theo đạo Thiên Chúa chiếm 3/4 dân số thành phố. Hôm mồng 5 Tết, dân khu này chạy vào nhà thờ tránh súng đạn như ở Việt Nam người dân thường làm. Thực ra, nhiều người trong số đó không phải là người có đạo Thiên Chúa.

Cán bộ Cộng sản vào nhà thờ bắt đi khoảng 400 người, một số theo danh sách có sẵn còn một số theo nhân dạng mà bắt (giàu có, sang trọng, trung niên v.v…). Cộng Sản cho biết họ phải vào vùng giải phóng để học tập chính trị trong vòng ba ngày, sau đó, sẽ được tha về. Họ bị đưa đi 9 cây số tới một ngôi chùa nơi Cộng sản đặt bộ Chỉ huy. Hai chục người được gọi ra trước cái gọi là "tòa án cách mạng", bị tố cáo là có tội, bị hành quyết và chôn ngay trong sân chùa. Những người còn lại được đưa qua sông và giao cho đơn vị Cộng sản địa phương. Bảy ngày sau đó, không rõ số lượng bao nhiêu, cả người bắt và người bị bắt đã di chuyển về một vùng quê. Và để không cho ai thấy, người bị bắt bị dẫn đến những vùng núi non lởm chởm nhất miền Trung Việt Nam, tới khe Đá Mài. Tại đây họ bị bắn hay bị đập đầu, xác bị đạp xuống lòng khe.

Ông Nguyễn Phúc Liên Thành, nguyên Phó Trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt tại Thừa Thiên nhớ lại: "Sau khi lập chính quyền thì Việt cộng bắt đầu cuộc thảm sát. Đầu tiên họ kêu gọi quân nhân cán chính trong thành phố Huế ra trình diện. Sau khi trình diện thì được cấp giấy, có quyền đi lại, coi như giấy thông hành. Những người này về nói lại với những người khác, người kế tiếp ra trình diện. Đến lần thứ ba thì họ yêu cầu tất cả những ai đã trình diện lần một và lần hai ra trình diện lại. Đây là lần quyết định, và cuộc thảm sát đã diễn ra!"

Ông Philip W. Manhard, cố vấn Mỹ tại Huế bị bắt làm tù binh và bị giam giữ tại một trại tù binh ở ngòi Bắc cho đến năm 1973, đã xác nhận rằng khi phải rút khỏi thành phố Huế, bộ đội cộng sản đã hạ sát tất cả những ai không chịu đi theo, cũng như những người quá già hoặc quá ít tuổi gây trở ngại cho cuộc rút quân này.

Phải được thúc đẩy bởi những động cơ tâm lý như thế nào mới có thể giết người một cách vô cảm và phi nhân tính, theo đuổi ý đồ diệt chủng như vậy! Tìm cách giải nghĩa cuộc tàn sát Tết Mậu Thân dưới góc độ nhìn vấn đề như thế thì chỉ có một câu trả lời độc nhất, đó là sự thể hiện cụ thể nhất của hệ thống giáo điều ý thức hệ Cộng sản với căm hờn giai cấp, với vai trò lịch sử tự phong của lớp người tự nhận là vô sản, với chủ trương đảng trị độc tôn, toàn trị phi nhân quyền v.v… cho phép người cộng sản -như, đúng ra hơn cả Thượng Đế- có đủ mọi thứ quyền trên cõi đời này, kể cả quyền sinh quyền sát. Bởi vậy cuộc tàn sát đầu Xuân Mậu Thân vẫn còn là một vấn đề mà các thế hệ nói tiếp cần phải phân tích để thanh toán.

Khoảng cách bốn mươi năm đã mang lại nhiều thay đổi từ tư tưởng đến thực tế đất nước, góp phẩn làm hiển lộ sự thật. Nếu vào thời điểm năm 1968, những người Cộng sản có được sự thản nhiên lạnh lùng để hạ sát một cách man rợ hàng ngàn đồng bào là tại vì lương tâm con người trong họ đã bị tham vọng quyền lực, quyền lợi che lấp. Phải bằng mọi giá loại trừ bất cứ trở ngại nào trên buớc đường họ cướp quyền để cầm quyền. Nhưng sau hơn 30 năm chiếm được trọn quyền trong cả nước, những người cộng sản qua suy nghiệm bản thân chắc đã không thể không nhận rõ được thực chất vô đạo, dối trá, man rợ, lạc hậu của ý thức hệ của mình. Họ biết rằng không thể mượn những ánh hào quang giả trá của chủ nghĩa để biện minh cho hành động giết người của họ. Nên họ đã ra sức che giấu tội phạm bằng những luận điệu, hình thức lố bịch tự ca ngợi chiến thắng, tạo nên những căng thẳng tâm lý, khơi sâu thêm hận thù trong xã hội. Nhưng họ che giấu bằng thái độ phi luân lý, bất cần tốt xấu, sai đúng, khinh miệt mạng sống con người. Mặc dầu trước công luận, thái độ này có chỗ dựa là chính quyền nhưng nó không thể làm nền tảng đạo lý cho môt nước Việt Nam dân chủ lương thiện được. Hồ sơ cuộc giết người hàng loạt Tết Mậu Thân vì vậy chưa thể xếp lại mà còn phải đưa ra trước công lý.

3. Đường thẳng và những ngõ ngách để đi tìm công lý.

Chữ công lý có hai nghĩa. Hiểu một cách thông thường thì công lý là công bằng, hợp với lẽ phải, trái phải, công tội phân minh v.v… Công lý cho người dân cảm giác công chính, thỏa đáng, chính đáng. Nhưng điều này không phải tự nhiên đã có sẵn trong xã hội, cần phải thực hiện mới có và công lý chỉ thực hiện thông qua nhà cầm quyền. Chính quyền phải có những định chế để đáp ứng nhu cầu công lý của dân. Do đó, chữ công lý còn có nhiều nghĩa chuyên môn mang tính chất triết học, pháp lý. Công lý về mặt chuyên môn, và hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, là một phạm trù luân lý-chính trị-luật học, biểu hiện một trạng thái quan hệ trong đó con người được đối xử công bình, nghĩa là bình đẳng với nhau trước pháp luật, trong sự tương kính, phù hợp với hệ thống giá trị được coi như tiêu chuẩn của cuộc sống chung. Công lý vì thế là đạo đức hàng đầu của chính quyền, là lẽ chính thống của một một chế độ, là diện mạo của văn minh.

Cho đến cuối thế kỷ XX, trên đại thể, công lý là giá trị quốc gia. Nước nào có công lý của nước ấy, tuy rằng cũng phải qui chiếu vào cái hình bóng giá trị được gọi là công lý chung của nhân loại. Nhưng từ thập niên 1990 công lý chung này bắt đầu quá trình đột xuất dưới hình thức bào thai. Và đến năm 1998 thì nó chính thức ra đời ở thành phố Rome của nước Ý, dưới danh xưng Tòa Án Hình Sự Quốc Tế, có thể nói một tòa án hình sự đầu tiên của cả loài người. Như vậy là từ nay sẽ có hai nền công lý, đó là công lý quốc nội và công lý quốc tế. Đúng hơn, nên nói hai cách thực hiện công lý với những khác biệt từ hình thức đến nội dung. Việc nhận diện cho rõ những khác biệt này không đơn giản vì nó đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn. Nhưng điều mà mọi người nên tránh là đừng đồng hóa một cách máy móc hai thứ công lý này.

Câu hỏi thực tế được đặt ra là trong khuôn khổ hai nền công lý ấy, phải làm sao để xét xử vụ giết người hàng loạt Tết Mậu Thân?

Có hai con đường thẳng và một số ngõ ngách để đưa vụ tàn sát Tết Mậu Thân ra trước công lý. Hãy bàn về những con đường thẳng để chọn hoặc con đường quốc tế hoặc con đường quốc nội. Về mặt công lý quốc tế thì vụ tàn sát này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (TAHSQT). Thật vậy, những hành vi bắt người giết người và ý chí phạm tội của những thủ phạm cộng sản rõ ràng là những yếu tố cấu thành các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử (thuật ngữ luật học gọi là "thẩm quyền đối vật", compétence ratione materiae) của cơ quan tài phán này, chiếu điều 6, 7 và 8 của Quy chế Rome 1998 thiết lập TAHS QT. Với những đặc tính này, vụ tàn sát Tết Mậu Thân là những tội phạm quốc tế đích danh như diệt chủng, chống nhân loại và tội phạm chiến tranh. Nhưng điều trớ trêu là các tụng nhân Việt Nam lại không có tố quyền để khiếu kiện trước TAHSQT. Vì chiếu điều 11 của Qui chế kể trên, TAHSQT chi thụ lý để xử những viêc xảy ra sau khi Qui chế này bắt đầu có hiệu lực, nghĩa là năm 2001. Hơn nữa trong mọi trường hợp, TAHSQT cũng không có hiệu lực đối với nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa vì nước này không ký tên vào Quy chế Rome 1998 nên không bị ràng buộc vào quy chế Rome. Như vậy, con đường thẳng quốc tế đã bị tắc nghẽn, các tụng nhân Việt Nam chỉ còn trông vào ba ngõ ngách là các nước Tây Ban Nha, Bỉ và Hoa Kỳ là ba nước tự cho mình có thẩm quyền trên tòan cầu xét xử một số tội hình sự bất cứ ai phạm ở nước ngoài. Với điều kiện là thủ phạm phải có mặt trên ba nước này và nếu không có mặt thì sẽ được dẫn độ. Rốt cuộc cũng vẫn là những bước phiêu lưu mà kết quả cũng không hơn gì trường hợp không có tố quyền. Vì thủ phạm không dại gì tự mang thân vào vòng tù tội và yêu cầu dẫn độ cũng chẳng bao giờ được chấp thuận.

Còn đường thẳng công lý quốc nội thì sao? Theo lẽ, những tụng nhân Việt Nam có thể vô đơn nhờ tòa án quốc nội xét xử vụ tàn sát Tết Mậu Thân. Như tòa án ở Phnom Penh đang xử những người Khơ Me Đỏ về tội diệt chủng. Nhưng người dân Việt Nam cũng sẽ đành phải bó tay thôi. Đương nhiên phải vậy bởi lẽ Đảng cộng sản, Đảng đã gây ra tội ác diệt chủng Tết Mậu Thân, vẫn còn đang cầm quyền khác với trường hợp Khơ Me Đỏ đã mất quyền. Thân nhân các nạn nhân vụ tàn sát Tết Mậu Thân chắc chắn là không hy vọng gì thấy được tòa án của chế độ hiện hữu chấp đơn khiếu kiện để tự mình xét xử mình và trừng phạt mình. Vậy chỉ còn ngõ ngách là tụ họp để khiếu kiện ngoài đường phố, đòi hỏi nhà cầm quyền mở cuộc điều tra để truy cứu các thủ phạm trong cuộc diệt chủng Tết Mậu Thân, trừ phi chính quyền tại chức bị mất chức và chính quyền thay thế sẽ không theo đưổi chính sách cai trị diệt chủng cũ.

Nói tóm lại, trước mắt, đặt vấn đề tìm công lý cho những nạn nhân vụ giết người hàng loạt Tết Mậu Thân là đặt vấn đề thay đổi ở tận gốc những điều kiện thực hiện công lý để cho nước Việt Nam có thể thực sự hội nhập với nhân loại văn minh. Để tạo ra một không gian pháp lý mới trong đó pháp luật sẽ thay thế cho bạo lực thay vì chỉ giữ vai trò công cụ cho bạo lực.

Đưa em đi đào xác

Vô Danh

Đưa em đi đào xác
Chiều Gia Hội âm u
Trời mây đen vần vũ
Nước sông Hương lặng lờ.
Đưa nhau hồn lạnh buốt
Em quấn vành khăn tang
Xác chồng chưa tìm được
Lệ nhỏ thầm hoang mang.
Bên hố chôn tập thể
Từng mảng người rưng rưng
Nhặt những xác vữa nát
Còn vương trói dây thừng.
Chiếc sọ nào nguyên vẹn
Sau nhát cuốc hãi hùng
Những người dân vô tội
Chết sấp mặt phơi lưng.
Đưa em đi đào xác
Hai mươi mấy ngày trời
Thành phố Huế thoi thóp
Với đớn đau mặt người.
Ơi thịt xương từng nhúm
Gói ghém bọc ni lông
Nằm tố cáo tội ác
Trong bốn tấm ván thông.
Những ngọn nến leo lắt
Như đóm mắt hồn ma
Nhìn hắt hiu chủ nghĩa
Qua nhang khói nhạt nhòa.
Đưa em buồn chất ngất
Mưa se sắt mặt mày
Em khoác tấm vải nhựa
Di ảnh chồng trong tay.

3
0
 
 
Rate This

Ông Tô Huy Rứa được bổ nhiệm làm trưởng ban Tổ chức Trung ương


Đảng cộng sản Việt Nam vừa chính thức bổ nhiệm ông Tô Huy Rứa, trưởng ban tuyên giáo Trung ương làm trưởng ban Tổ chức Trung ương thay ông Hồ Đức Việt về hưu.

Theo báo Vietnam net, ông Đinh Thế Huynh, ủy viên bộ chính trị, Tổng biên tập báo Nhân dân sẽ bổ nhiệm làm trưởng ban tuyên giáo, thay ông Tô Huy Rứa.

Trước đó, ông Rứa đã từng làm giám đốc trường tuyên huấn trung ương (nay là học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), bí thư thành ủy Hải Phòng, giám đốc học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.


25 người Thượng Tây Nguyên đã định cư tại Canada


2011-02-08

Văn phòng Cao ủy tỵ nạn LHQ tại Campuchia mới đưa 25 người Thượng Tây Nguyên sang định cư tại Canada hôm thứ hai.

AFP photo

Một trung tâm tị nạn của người Thượng dân tộc thiểu số Việt Nam ở Phnom Penh ngày 15 tháng 12 năm 2010.

Cơ quan này sẽ tiếp tục đưa 25 người khác sang định cư ở Canada vào thứ tư, và 5 người khác sẽ được đưa sang định cư tại Hoa Kỳ vào ngày 14 hay 15 tháng 2 tới. Còn những người được cấp quy chế tỵ nạn, nhưng không chịu sang định cư ở Canada, thì Cao ủy tỵ nạn LHQ sẽ kết hợp với Bộ Nội Vụ Campuchia trục xuất họ cùng với những người chưa có quy chế về Việt Nam. 

Có ít nhất 25 trong số 76 người Thượng đào thoát từ Tây Nguyên của Việt Nam sang Campuchia xin tỵ nạn đã nhận được quy chế định cư tại nước thứ 3, rời Campuchia vào lúc 8 giờ tối thứ hai, ngày 7 tháng 2 để sang định cư tại Canada và 25 người khác cũng sẽ rời Campuchia để sang định cư tại nước này vào lúc 8 giờ đêm ngày 9 tháng 2 năm 2011.

Vừa vui vừa buồn

Một người Thượng Tây Nguyên, quê quán ở tỉnh Gia Lai sang Campuchia để xin tỵ nạn trong năm 2004 vì gia đình cùng với nhiều người dân tộc thiểu số ở Tây nguyên bị chính phủ Việt Nam kỳ thị sắc tộc, bị chính phủ đe dọa, đàn áp, bởi vì Chính phủ không muốn họ theo đạo Tin lành, đạo Thiên chúa. Ngoài ra, quyền tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng đều bị hạn chế hay bị tước đoạt. 

Bà Va Siu Glaih, người Thượng Tây Nguyên được cấp quy chế tỵ nạn từ Cơ quan Cao ủy tỵ nạn LHQ tại Campuchia cho Đài Á Châu Tự Do biết trước giờ xuất hành rằng, bà cùng với 24 người Thượng được Cơ quan Cao ủy tỵ nạn LHQ tại Campuchia đưa đi sân bay Quốc tế Phnom Penh vào lúc 4 giờ và 30 phút chiều thứ hai, ngày 7 tháng 2 năm 2011, và lên máy bay sang Canada lúc 8 giờ tối. Đa số người Thượng chạy thoát từ các tỉnh Gia La, Đắc Nông, Kon Tum, Lâm Đồng và Đắc Lắk từ năm 2001, và cũng có một số người mới sang tỵ nạn trong năm 2009.

Nói chung là vừa vui vừa buồn. Vui là mình được ra khỏi nơi này, còn buồn là vì mình không biết nói tiếng người ta. 

Ông Ksor Luân

Bà Va Siu Glaih bày tỏ với Đài Á Châu Tự Do rằng, cuộc sống ở Campuchia cũng khó khăn nhưng nếu như bị trục xuất về Việt Nam thì càng khó hơn. Khi bà đi tới nước thứ 3, bà sẽ xây dựng cuộc đời mới vì mọi cái đều mới hết, tuy nhiên bà nói rằng, có lẽ sống tại nước thứ 3 rất khó vì bà cũng như anh em người Thượng không biết ngoại ngữ, sợ không được gặp chồng và bà con ở Hoa Kỳ. Mặc dù, nhiều điều đều có thể xảy ra khi đến định cư tại Canada, nhưng bà nói rằng, nước thứ 3 có tự do hơn Việt Nam.

Bà Siu Glaih cho biết thêm, lý do quyết định phải sang định cư tại Canada, "Vì họ (UNHCR) nói không có con đường nào nữa. Một là phải trở về nước, hai là phải đi Canada…Ý của em là nếu như về Việt Nam thì hơi khó khăn, với lại mình bỏ nhà cửa 3-4 năm rồi. Nhà cửa chắc bị tan nát hết rồi, như vậy đành phải đi Canada."

Còn ông Ksor Luân đào thóat từ tỉnh Đắc Lắk sang Campuchia để xin tỵ nạn vào năm 2005 và nhận được quy chế tỵ nạn từ Văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ nhiều năm nay cho Đài Á Châu Tự Do biết vào chiều thứ ba, ngày 8 tháng 2 rằng, vừa qua ông rất lo sợ cho cuộc sống ở Campuchia vì chính phủ nước này có quan hệ mật thiết với Chính phủ Cộng sản Việt Nam. Ông nói rằng, ông cũng sẽ gặp khó khăn khi sang định cư tại Canada chính vì bất đồng ngôn ngữ, nhưng ông hy vọng sẽ có nhiều người Việt từ vùng Tây Nguyên sống bên cạnh và cuộc sống của ông thế nào thì ông giao cho Chúa hành động. Ông Ksor Luân cho biết thêm:

"Người ta mới đi 25 người, ngày mai là đợt tụi em 25 người nữa. Vẫn đi Canada, đi một chỗ thôi…giờ chuẩn bị quần áo, đồ đạc, và gửi an ninh ở ngoài mua cho, vì tụi em không ra ngoài được. Ngày mai là tụi em đi, và cũng giống như anh em đi chiều hôm qua (7/2)… Nói chung là vừa vui vừa buồn. Vui là mình được ra khỏi nơi này, còn buồn là vì mình không biết nói tiếng người ta. Và một phần cũng hơi sợ vì mình đi tới bên kia (Canada) thì cuộc sống mình như thế nào mình chưa biết, giờ hơi lo một chút."

Trở về VN có an toàn? 

Ông Ksor Luân cho biết thêm, trong số nhóm người Thượng Tây Nguyên được văn phòng Cao ủy tỵ nạn LHQ cấp quy chế sang định cư tại Canada, thì có khoảng 9 người từ chối sang nước này vì họ cho rằng, vợ, chồng hay gia đình họ đang sống tại Mỹ. Họ buộc phải đồng ý ký tên trở về Việt Nam cùng với 14 người khác chưa được cấp quy chế vì họ không có sự lựa chọn. Ông Ksor Luân bày tỏ quan ngại nếu như người đó có liên quan đến hoạt động đấu tranh chống Chính phủ Việt Nam:

000_HKG2004072863182-250.jpg
Một nhóm dân tộc thiểu số người Thượng trốn sang Campuchia từ năm 2004. AFP photo
"Trước đây rất khó khăn, đôi khi họ bị đánh đập, đôi khi bị mời lên xã, huyện, và đôi khi bị bứt vô tù…tùy theo trường hợp của mình. Còn anh em khác thì vẫn bình thường thôi. Nói chung là tùy theo trường hợp của mình, nếu như mình dính líu đến chuyện chính trị thì cái đó nặng hơn, ở đâu cũng vậy. 

Nếu như mình trở về, mình làm theo người ta, người ta biểu mình làm gì mình làm theo thì mới sống được. Người ta đánh mình cũng được, chửi mình cũng được. Còn trường hợp mình ngang ngang, ngược ngược với người ta thì có gì đi tù." 

Liên quan vấn đề này, Phát ngôn viên Đại sứ Việt Nam Lê Minh Ngọc tại Campuchia nói rằng, Việt Nam là nước đang phát triển, nguồn lực của đất nước còn hạn, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, ảnh hưởng đến việc hưởng thụ đẩy đủ các quyền của người dân, dân cư sống phân tán trên các vùng miền với ngôn ngữ, phong tục, tập quán và điều kiện sinh họat rất khác nhau. Những người dân sống ở vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, do hạn chế trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, thông tin…nên trình độ học vấn còn thấp, sự hiểu biết về pháp luật, chính sách cũng như năng lực tuân thủ pháp luật còn hạn chế. 

Ông Lê Minh Ngọc nói rằng, trường hợp một người Khmer Krom quê ở tỉnh An Giang bị bắt trước đây thì khác, bởi vì trước khi ông ấy sang Campuchia và Thái Lan để xin tỵ nạn, thì cơ quan cảnh sát huyện đã truy nã tìm bắt. Ông nói: "…còn mọi người thượng kia, khi họ trở về thì họ được pháp luật Việt Nam bảo vệ, chính phủ sẽ không làm khó dễ đối với họ. Đặc biệt tôi còn nghe thông tin các tỉnh ở Việt Nam có những cái tạo điều kiện như cấp đất đai cho những người đi bỏ để họ có điều kiện sinh sống."

Trước đây rất khó khăn, đôi khi họ bị đánh đập, đôi khi bị mời lên xã, huyện, và đôi khi bị bứt vô tù…tùy theo trường hợp của mình. 
Ông Ksor Luân 


Mặc dù phát ngôn viên Đại sứ Việt Nam khẳng định như vậy, nhưng ông Pen Bunna, nhân viên tổ chức nhân quyền ADHOC tại Campuchia bày tỏ lo ngại đến sự an toàn cho những người Thượng Tây Nguyên cho dù họ tự nguyện trở về Việt Nam. 

Bởi vì trước đây có tin rằng, trong số 750 người Thượng sang tỵ nạn tại Campuchia bị trục xuất trở về nước đã bị công an Việt Nam đàn áp và bắt bỏ tù. Ông Pen Bunna mong muốn Chính phủ Việt Nam cởi mở để các tổ chức nhân quyền Quốc tế đến khảo sát tình hình nhân quyền người Thượng Tây Nguyên sau khi họ buộc phải hồi hương.

Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia tuyên bố rằng, Chính phủ Campuchia sẽ đóng cửa trại tỵ nạn người Thượng Tây Nguyện tại Thủ đô Phnom Penh vào ngày 15 tháng 2 năm 2011, đối với những người Thượng không được Cao ủy tỵ nạn LHQ cấp quy chế tỵ nạn, thì sẽ buộc phải hồi hương trở về Việt Nam, chính vì Việt Nam không còn chiến tranh, lại là một nước đang phát triển.

Theo dòng thời sự:


Tình hình TS Cù Huy Hà Vũ hiện nay


2011-02-08

Cô Cù Thị Xuân Bích lên tiếng "báo động" về tình trạng sức khỏe của người anh trai là Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, hiện trong Trại tạm giam B14 - Bộ Công an.

Ảnh do ông Vũ cung cấp

Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ chụp tháng 10/2010

Cô Cù Thị Xuân Bích cho rằng, anh trai cô không thể bị khởi tố bởi điều 88 "tội tuyên truyền chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa", và không làm điều gì trái với pháp luật. 

Tình trạng sức khỏe 

Việt Hùng: Xin chào cô Cù Thị Xuân Bích. Theo những tin tức mà chúng tôi ghi nhận được thì anh trai cô trong tình trạng "báo động" về chứng bệnh đau tim tái phát. Xin cô cho biết về tình trạng sức khỏe hiện nay của anh trai cô?

Cô Xuân Bích: Vâng, anh trai tôi Cù Huy Hà Vũ có tiền sử về bệnh tim do đó từ lúc bị bắt giam cho đến nay, nhiều đêm anh Vũ lên cơn đau tim. Với cách chữa trị ở trại giam như hiện nay thì thực sự không có hiệu quả và điều này hiện khiến gia đình tôi rất lo lắng…

Gia đình biết anh bị bệnh tim bẩm sinh nên ngay từ ngày anh bị bắt (05-11-2010) thì ngày hôm sau chị Nguyễn Thị Dương Hà (vợ anh Cù Huy Hà Vũ) và tôi với tư cách là em gái đã viết đơn xin bảo lãnh cho anh Vũ gởi đến Thủ trưởng cơ quan anh ninh điều tra, Bộ Công an là nơi bắt giam anh Vũ.

Với cách chữa trị ở trại giam như hiện nay thì thực sự không có hiệu quả và điều này hiện khiến gia đình tôi rất lo lắng…

Cô Xuân Bích 

Ngày (30-12-2010) khi đã có cáo trạng, Viện Kiểm sát Hà Nội đã truy tố anh Vũ thì tôi và chị Dương Hà lại tiếp tục làm đơn bảo lãnh cho anh Vũ gửi Chánh án Tòa án Hà Nội, nhưng cho đến nay không được Tòa án Nhân dân Hà Nội trả lời. Mặc dù ai cũng biết bệnh tim là bệnh hiểm nghèo, nhưng cơ quan an ninh điều tra và Tòa án Nhân dân Hà Nội không ai quan tâm đến tình trạng sức khỏe của anh Cù Huy Hà Vũ mà lẽ ra theo Hiến pháp công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo hộ về tình trạng sức khỏe, tính mạng, danh dự và nhân phẩm.

Việt Hùng: Từ ngày anh trai cô bị bắt cho đến nay gia đình vẫn chưa được thăm gặp…

Cô Xuân Bích: Thưa chưa, với tư cách là người nhà là vợ, con, em gái và chú ruột thì ngay từ ngày (05-11-2010) anh Vũ bị bắt tính đến nay đã hơn 3 tháng, nhưng gia đình tôi đã có rất nhiều đơn thư xin thăm gặp, nhưng vẫn chưa được giải quyết. Riêng chị Dương Hà vì là luật sư của anh Vũ nên chị được gặp với tư cách là luật sư, nhờ vậy mà chị Hà và luật sư 

Trần Đình Triển biết được anh Vũ hay bị đau tim vào ban đêm.
Cho đến giờ phút này các cấp chính quyền hoàn toàn im lặng trước những lời thỉnh cầu của gia đình. Không có sự trả lời gì cả. 

Việt Hùng: Lần gặp gần đây nhất luật sư Nguyễn Thị Dương Hà có cho gia đình biết bệnh tim của anh trai cô tái phát ở mức như thế nào hay không?

Cô Xuân Bích: Với điều kiện nhà giam thì làm sao có thể đảm bảo cho bệnh như anh Cù Huy Hà Vũ. Vả lại việc bắt giam và truy tố trái Hiến pháp và Pháp luật thì làm sao anh Vũ không nghĩ ngợi uất ức dẫn đến bệnh tim bị tái phát và thường anh phải sử dụng thuốc của trại. Vào ban đêm thì anh hay bị đau, chị Dương Hà và luật sư Trần Đình Triển đã mang thuốc vào trại nhưng trại từ chối và nói chỉ được dùng thuốc của trại mà thôi. 

Việt Hùng: Anh trai cô có cho biết ở trong trại các bác sĩ điều trị bệnh cho anh trai cô như thế nào hay không?  

Cô Xuân Bích: Anh trai tôi có nói ở trong trại cũng cho thuốc. Theo chị Dương Hà nói thì trong trại họ cũng đối xử "đúng mức" với anh tôi.

Việt Hùng: Cách đây không lâu chúng tôi có ghi nhận, anh trai cô đã ủy quyền để cô với tư cách là em gái viết đơn xin bảo lãnh về điều trị tại gia, nhưng không có hồi âm từ các cấp chính quyền? 

Cô Xuân Bích: Hoàn toàn không có hồi âm, tôi đã gởi hai lần. Tôi gửi cho Tòa án Nhân dân Hà Nội, tôi gửi cho bên Bộ Công an nhưng không được trả lời.

Việt Hùng: Liệu những lá đơn đó có đến tay được các cấp chính quyền…

Cô Xuân Bích: Tôi làm hết sức mình, tôi gửi thư bảo đảm với tất cả những gì có thể làm theo đúng pháp luật, nhưng hoàn toàn đến giờ gia đình không nhận được sự hồi âm nào cả.  

Khi nào được ra tòa?

Việt Hùng: Theo chỗ chúng tôi ghi nhận, không loại trừ khả năng, cuối tháng 2, đầu tháng 3 tới đây Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội sẽ đưa anh trai cô ra xét xử. Về tin này cho đến giờ phút này gia đình đã ghi nhận diễn tiến gì mới hay chưa?

Cô Xuân Bích: Có thể là sau 2 tuần nữa họ sẽ đưa ra xét xử, có thể là lâu hơn. Hiện tại thì chúng tôi chưa rõ ngày giờ cụ thể về phiên xử sẽ diễn ra lúc nào. 

Việt Hùng: Về bản cáo trạng, bên Viện Kiểm sát buộc tội anh trai cô vào điều 88 "tội tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa". Về phía gia đình, cô nghĩ gì về lời cáo buộc này?

Cô Xuân Bích: Về phía gia đình tôi luôn luôn nghĩ rằng anh trai tôi làm theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Anh tôi là người yêu nước. Ngay bản thân chúng tôi được sinh ra trong một gia đình yêu nước cho nên những việc làm của anh trai tôi thì tôi tin tưởng. Còn ngoài ra có ý kiến gì về cáo trạng thì luật sư của anh trai tôi sẽ trả lời.

Có thể là sau 2 tuần nữa họ sẽ đưa ra xét xử, có thể là lâu hơn. Hiện tại thì chúng tôi chưa rõ ngày giờ cụ thể về phiên xử sẽ diễn ra lúc nào. 

Cô Xuân Bích

Việt Hùng: Với lời cáo buộc anh trai cô phạm vào điều 88 tuyên truyền chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa thì cô nói gì với quý thính giả cả trong và ngoài nước…

Cô Xuân Bích: Trước tiên tôi xin thay mặt gia đình cảm ơn quý đài, quý thính giả đã quan tâm tới tình trạng sức khỏe của anh trai tôi. Và qua Đài tôi xin cảm ơn với những ai đã ủng hộ cho Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ trong thời gian qua. Đặc biệt tôi xin cám ơn sâu sắc tới những quý vị đã gửi thỉnh nguyện thư yêu cầu giải oan cho anh trai tôi. Một lần nữa tôi xin cảm ơn quý đài đã quan tâm và dành cho tôi cuộc phỏng vấn như thế này, cũng hơi bất ngờ đối với tôi. Tôi nghĩ rằng tôi đã trả lời đúng sự thật, đúng theo tinh thần mà pháp luật Việt Nam cho phép.

Việt Hùng: Xin cám ơn cô Cù Thị Xuân Bích.

Theo dòng thời sự:


LM. Nguyễn Văn Lý sẵn sàng trở lại nhà tù sau thời gian chữa bệnh


2011-02-08

Vào ngày 15 tháng 2 sắp tới là thời gian 1 năm mà Linh mục Nguyễn Văn Lý được chính quyền cho về nhà để chữa bệnh sẽ hết hạn.

Vietcatholic

Linh mục Nguyễn Văn Lý bi lôi ra khỏi phiên tòa. Vietcatholic

Mặc lâm có cuộc nói chuyện với LM Lý để tìm hiểu liệu ông có phải chấp hành lệnh này để quay trở lại nhà tù hay không hay sẽ tiếp tục được gia hạn một thời gian nữa, mời quý thính giả theo dõi những thông tin mới nhất mà LM Lý cho biết sau đây:

Bệnh thì có bớt nhưng lập trường thì không thay đổi

Mặc lâm: Thưa LM trước tiên xin được hỏi thăm sức khỏe của LM sau một năm an dưỡng tại Nhà Chung có tiến triển gì khả quan hay không?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Có hồi phục được khoảng 60%, ở tay và chân bị liệt đấy, ngoài ra thì sức khỏe bình thường.
Mặc lâm:-Thưa LM, từ khi ra khỏi trại giam đến nay nhà nước có cho phép ông cử hành thánh lễ với giáo dân hay không?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Thường thì chuyện đó họ không đề cập đến đâu, họ không nói chuyện phép tắc gì cả. Thực tế thì tôi vẫn làm lễ trong Nhà chung này bởi vì tôi không có giáo xứ. Tôi làm lễ trong những dịp nào đó mà giáo dân đi qua thì cũng như bình thường nhưng chỉ những giáo dân thân quen thôi. 
Những lễ Giáng sinh, lễ Tất niên hay Giao thừa, lễ Đầu năm hay lễ Bổn mạng của tôi thì không ai cần cả. Những lễ của giáo phận như lễ phong chức Linh mục, lễ Làm phép dầu ngày thứ Năm tuần thánh ở nhà thờ 
Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng ngay tại phiên tòa
Tấm ảnh lịch sử- Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng ngay tại phiên tòa trước mặt công chúng. RFA file
Chánh Tòa thì tôi vẫn đồng tế với anh em linh mục thôi.
Tôi nói gia đình sẽ không làm(đơn xin gia hạn) đâu vì đã làm thì làm vô thời hạn chứ gia đình không làm có thời hạn đâu. Còn có thời hạn là quyết định của nhà nước, thì nhà nước cứ làm. Họ trả lời là cứ để họ làm nhưng họ chỉ mong tôi cho họ tới họ làm hồ sơ thôi.
Mặc lâm:-Thưa LM, từ ngày về chữa bệnh tại Nhà Chung của giáo phận Huế thì những cán bộ đại diện chính quyền có tiếp xúc với ông hay không, đặc biệt là vào những ngày mà lệnh tạm tha cho ông sắp hết hạn?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Họ có vào thăm tất cả 4 lần, và khi họ vào thăm hai lần cuối cùng thì họ có nói rằng họ muốn trước Tết âm lịch họ đến để làm thủ tục gia hạn. Họ mong gia đình nên có một cái giấy đề nghị gia hạn ở ngoài để điều trị.
Mặc lâm:-Trước đề nghị rất cởi mở này thì LM trả lời ra sao thưa ông?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Tôi nói gia đình sẽ không làm đâu vì đã làm thì làm vô thời hạn chứ gia đình không làm có thời hạn đâu. Còn có thời hạn là quyết định của nhà nước, thì nhà nước cứ làm. Họ trả lời là cứ để họ làm nhưng họ chỉ mong tôi cho họ tới họ làm hồ sơ thôi. Họ đề nghị như vậy hai lần, tôi trả lời rằng quý vị muốn làm gì thì làm nhưng nếu đem bác sĩ đến để khám và chữa bệnh cho tôi thì tôi không chấp nhận, bởi vì ngay trong trại giam tôi cũng đã khước từ sự điều trị của nhà nước rồi.
Họ nói rằng thôi thì họ tới nói chuyện cũng được. Để họ căn cứ trên cơ sở đó để làm hồ sơ cho kịp chớ sau tết thì không kịp, vì hồ sơ phài làm qua nhiều công đoạn, liên quan đến nhiều cơ quan. Đó là lần cuối cùng họ gặp tôi vào cuối năm 2010.
Thứ nhất tôi đứng đơn tố cáo tội bán nước và tội phản quốc của nhà nước. Thứ hai là đầu năm 2011 tôi có lời kêu gọi tiến hành giải thể chế độ cộng sản. Ngày 30 tháng Giêng tôi có thơ yêu cầu họ phải trả lời dứt khoát việc lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam bị mất.
Mặc lâm:-Trước những lời từ chối bất ngờ của LM thì phản ứng của họ ra sao thưa ông?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Từ đó đến giờ thì không thấy họ nói gì cả nhưng do cái chỗ mà tôi mới làm có vẻ nghiêm trọng nên có lẽ họ thấy khó khăn. Đó là thứ nhất tôi đứng đơn tố cáo tội bán nước và tội phản quốc của nhà nước. Thứ hai là đầu năm 2011 tôi có lời kêu gọi tiến hành giải thể chế độ cộng sản. Ngày 30 tháng Giêng tôi có thơ yêu cầu họ phải trả lời dứt khoát việc lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam bị mất. Nay thì mấy ông có phương án gì để thu hồi lại lãnh thổ lãnh hải? Tôi cũng kêu gọi giải thể chế độ, phát động phong trào chống giặc Tàu, tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội. Sắp tới chúng tôi tiến hành thiết lập chế độ đa nguyên đa đảng.

Ở trong trại giam hay ở ngoài thì cũng như nhau

Mặc lâm:-Thưa LM theo những gì mà ông vừa cho biết thì chắc chắn ông sẽ gặp nhiều vần đề nghiêm trọng vì theo như mọi nguời đều biết những lời kết án dù sao cũng không làm chính quyền lo ngại cho bằng lời kêu 
LM. Nguyễn Văn Lý đã được đưa về Nhà Hưu Dưỡng của Gìáo phận Huế
Ngày 15 tháng 3, 2010 linh mục Nguyễn Văn Lý đã được đưa về Nhà Hưu Dưỡng của Gìáo phận Huế để điều trị. RFA file
gọi tổ chức đa nguyên đa đảng một cách công khai, cũng như kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội là hành động chống chính quyền. Liệu ông đã chuẩn bị thế nào cho những khó khăn chắc chắn sẽ xảy ra cho ông trong thời gian tới?
LM. Nguyễn Văn Lý: -Tôi nghĩ rằng chính họ khó khăn chứ tôi thì có khó khăn gì đâu? Bởi vì tôi ở trong trại giam hay ở ngoài thì cũng như nhau thôi. Tôi luôn luôn quan niệm là tôi đi nhận nhiệm sở mới cho nên bây giờ họ đem xe tới mang tôi di thì tôi đi nhận chỗ mới trong trại giam. Vô trại giam thì tôi chiến đấu trong trại giam. 
Tôi luôn luôn quan niệm là tôi đi nhận nhiệm sở mới cho nên bây giờ họ đem xe tới mang tôi di thì tôi đi nhận chỗ mới trong trại giam. Vô trại giam thì tôi chiến đấu trong trại giam.
Tôi sẽ tuyệt thực từng đợt và cứ mỗi lần tuyệt thực thì tôi lại được một trang giầy để tôi viết. Mỗi bữa cơm như vậy thì được một trang, một ngày tôi được ba trang tôi viết những điều tôi muốn nói với nhà nước. Họ làm biên bản là tôi chống đối nhưng thực ra những lời tôi viết tôi hy vọng nó sẽ lên tới Tổng cục an ninh.
Kỳ đi tù vừa rồi thì tôi cũng đã viết được hơn 50 trang những gì cần thiết tôi muốn nói với chế độ này. Do đó tôi luôn luôn chủ dộng còn họ luôn luôn bị động và do đó khó khăn thì chính họ khó khăn chứ tôi có khó khăn gì đâu? 
Bây giờ họ để tôi ở ngoài thì họ khó khăn vì họ phải cử người canh gác chung quanh Tòa giám mục liên tục ngày đêm, hiện giờ vẫn đang canh gác đây. Còn nếu họ đưa tôi vào trại giam thỉ chính họ sẽ chịu áp lực của dư luận quốc tế, của Liên hiệp quốc, ngay cả với Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc thì đều trái với những gì đã ký với quốc tế...vì vậy chính họ mới lúng túng khó khăn chứ tôi không có gì khó khăn chi cả.
Mặc lâm:-Thưa xin LM cho một câu hỏi cuối, như những điều LM vừa kể thì viễn cảnh nhà nước sẽ bắt LM vào lại trại giam sẽ không phải là không thể xảy ra, thưa ông có nhắn nhủ gì với đồng bào trong và ngoài nước trước khi không còn cơ hội để nói chuyện như ngày hôm nay thưa LM? 
Tôi xin nhắn với mọi người rằng chế độ cộng sản Việt Nam chắc chắn phải lụi tàn. Nguyên tắc triết lý phải như thế. Bởi vì không có sự dối trá, sự đe dọa sợ hãi nào mà kéo dài mãi được, Người dân sẽ đến lúc ý thức được rằng sức mạnh bạo lực dựa trên dối trá, dựa trên thủ đoạn thì chỉ là sức mạnh ảo
LM. Nguyễn Văn Lý: Xin cám ơn anh với câu hỏi này. Tôi xin nhắn với mọi người rằng chế độ cộng sản Việt Nam chắc chắn phải lụi tàn. Nguyên tắc triết lý phải như thế. Bởi vì không có sự dối trá, sự đe dọa sợ hãi nào mà kéo dài mãi được, Người dân sẽ đến lúc ý thức được rằng sức mạnh bạo lực dựa trên dối trá, dựa trên thủ đoạn thì chỉ là sức mạnh ảo, sức mạnh mong manh. 
Nhưng bây giờ đến khi nào nó lụi tàn thì do ý thức của người dân hiểu được rằng sức mạnh lẽ phải nằm ở nơi mình thì mình áp lực thì họ sẽ nhuợng bộ. Vậy cái quan trọng ở chỗ chế độ cộng sản này mạnh, nhưng thực sự nó yếu nó mong manh.Nếu người dân tin sức mạnh của lẽ phải của sự thật, của tình thương thì đương nhiên chế độ này sẽ lụi tàn sớm.
Lời nhắn gửi cuối cùng của tôi muốn nói với mọi người rằng bóng tối là một sức mạnh ảo, nó chỉ có mặt khi ánh sáng chưa tới. Cái quan trọng là người dân phải đứng về phía ánh sáng và lấy ánh sáng đó chiếu vào bóng tối thì bóng tối sẽ tan dần đi. 
Bởi ánh sáng mới là thực tại thật. Ánh sáng của sự thật, ánh sáng của lẽ phải, sánh sáng của tình thương. Ánh sáng đó thuộc về 90 triệu người dân trong và ngoài nước. Còn bóng tối nó thuộc về người cộng sản và thuộc về những ai sợ hãi mà theo cái bóng tối đó. Xin cảm ơn.

Các tin, bài liên quan